Ảo giác Trịnh Công Sơn
Lê Hữu

 

Trong xuân thì thấy bóng trăm năm...
(Gần Như Niềm Tuyệt Vọng, TCS)

Làm gì có chuyện ảo. Làm sao biết ảo hay không ảo? Làm
sao em biết bia đá không đau? Làm sao em biết đời sống
buồn tênh? Làm sao... mà trả lời.
Ảo, nghĩa là không thực. Những gì thuộc về “ảo” đều
là... ảo cả, ảo vọng tuổi trẻ, ảo tưởng hòa bình, ảo
ảnh cuộc đời... vân vân. Tôi không rõ là ngày trước,
khi viết về một hiện tượng, một tiếng hát, giáo sư
Nguyễn Văn Trung đã phát giác được cái “ảo” từ những
góc nhìn nào. Khuôn mặt liêu trai, mái tóc liêu trai,
vóc dáng liêu trai, giọng hát liêu trai, tất cả hiện ra
dưới ánh đèn mầu... liêu trai mờ ảo của phòng trà, đủ
để tạo nên một “Ảo Ảnh Thanh Thúy”?
Khác với ảo ảnh, thường là những tìm kiếm, đuổi bắt
(tìm nhưng không gặp được, đuổi nhưng không bắt được,
như vũng nước trong sa mạc, như những bong bóng xà-
phòng nhiều màu sắc, như chiếc bóng của mỗi người...),
ảo giác ở ngay trong đầu, không phải tìm kiếm đâu xa,
ẩn nấp sẵn đâu đó, có dịp là xuất đầu lộ diện. Ảo giác
có khi là tưởng tượng, có khi là đóng kịch, là giả vờ,
là bị đánh lừa hay tự đánh lừa, là tưởng vậy mà...
không phải vậy, khiến dẫn đến những lầm lạc trong nhận
thức, chẳng còn biết đâu là thực là giả.
Đọc một cuốn sách, xem một bức tranh, nghe một bài
nhạc..., đôi khi trong thưởng ngoạn nghệ thuật, ảo giác
cũng thấp thoáng, chập chờn. Trường hợp Trịnh Công Sơn
(TCS) là một ví dụ.

1. Ảo giác ngôn ngữ TCS

Thật và giả:
Ảo giác, trước hết đến từ chữ nghĩa TCS.
“Toàn bộ âm nhạc TCS đẹp như một bức họa trừu tượng hơn
là tả thực...”(1), nhận xét này của nhạc sĩ Phạm Duy
quả có đúng, mặc dầu không phải tranh trừu tượng lúc
nào cũng đẹp cả. Gọi nhạc TCS là “nhạc... trừu tượng”
cũng không sai. Chỉ là chuyện chữ nghĩa (“thơ cụ thể”,
chẳng hạn). Trừu tượng, nên cần phải vận dụng ít nhiều
trí tưởng tượng mới nhìn ra cái đẹp. Hình tượng người
nữ trong lời nhạc TCS chẳng hạn:
Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai... (Đóa Hoa Vô
Thường)
Vai em gầy guộc nhỏ... (Như Cánh Vạc Bay)
Bàn tay xanh xao đón ưu phiền... (Nắng Thủy Tinh)
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao... (Diễm Xưa)
Em gầy ngón dài... (Tuổi Đá Buồn)
Ngón tay em dài nên mãi ru thêm ngàn năm... (Ru Em Từng
Ngón Xuân Nồng)
Cái đẹp này dường như không được bình thường lắm, có vẻ
bệnh hoạn nữa là khác, vì gầy guộc quá, xanh xao quá.
Cái đẹp thật mỏng manh, dễ vỡ...
Nhưng làm sao biết là đẹp? Có chắc là đẹp? Ai nói đẹp?
Chắc không phải TCS. Ông không hề nói xấu, nói đẹp gì
cả. Ông chỉ mô tả sơ sài, qua loa, đại khái là như vậy,
ai muốn hiểu sao thì hiểu.
Vậy thì đẹp, xấu chỉ là do ta nghĩ, ta tưởng tượng ra
đấy thôi. Phải đẹp chứ, có hình tượng người nữ nào ở
trong thơ, trong nhạc mà lại không đẹp. Thử hình dung
cái đẹp “kiểu TCS”. Xem nào, “đôi vai lụa mát” chắc
phải... mát rượi! “Đôi môi lửa cháy” chắc phải... bốc
lửa! “Da thơm quả ngọt” chắc phải... ngọt lắm, thơm
lắm! “Mi cong cỏ mượt” chắc phải... mượt lắm, cong lắm!
Không đẹp sao được.
Thực ra, bức tranh toàn cảnh trong nhạc TCS không hoàn
toàn là trừu tượng. Nếu chỉ thuần là tranh trừu tượng,
khó lòng giữ chân người xem lâu được. Khách xem tranh
sẽ bỏ đi thôi. Điều khiến người xem chịu dừng lại ngắm
nghía và trầm trồ trước họa phẩm của TCS chính là vì
những tranh ấy không phải lúc nào cũng trừu tượng hay
siêu thực.
Chỉ đôi ba chỗ thôi, chẳng hạn:
Tim lăn trên đường mòn..., hoặc
Có sợi tóc nào bay trong trí nhớ nhỏ nhoi..., hoặc
Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô...,
hoặc
Dòng nước mắt sẽ bay trong trời, làm cơn mưa rớt trên
chăn gối, lời cỏ cây hát trên da người...
Còn lại là những chỗ người nghe nhạc, xem tranh đều có
thể hiểu được. Cái thu hút trong lời nhạc TCS là những
chỗ hiểu được và không hiểu được xen lẫn vào nhau, nằm
cạnh nhau. Hiểu hết, hiểu dễ dàng thì đâu còn muốn nghe
thêm nữa. Bài hát dù có hay ho, có mùi mẫn tới đâu cũng
dễ trở thành cũ, vì mọi câu hỏi đều đã được trả lời,
mọi chuyện đều đã được giải quyết xong, giống như là
“thôi là hết chia ly từ đây” vậy. Ở ca từ TCS, những
vấn nạn vẫn còn nguyên trạng, chưa có lời giải đáp,
không có câu trả lời, vì vậy nghe đi nghe lại mà vẫn cứ
“mới”, vẫn ít thấy nhàm chán, vẫn muốn nghe nữa, nghe
nữa...
Tôi là ai mà còn trần gian thế?
Tôi là ai mà yêu quá đời này?
Tôi là ai, là ai, là ai...??? (Tôi Ơi ! Đừng Tuyệt
Vọng)
Những câu hỏi cứ dấy lên mỗi ngày, cứ đeo đẳng theo ta
mãi một đời.
Trở lại với những bức họa trừu tượng, TCS đã lấy gì để
vẽ nên những tranh ấy? Chỉ là chữ và nghĩa, không có
bất kỳ một chất liệu nào khác. Thử xét qua một ít từ
loại, những danh từ, động từ, tính từ... được sử dụng
qua bàn tay phù phép của TCS.
Động từ chẳng hạn, thử lấy chữ nào đó TCS vẫn hay dùng,
ví dụ chữ “phơi”:
Môi nào hãy còn thơm, cho ta phơi cuộc tình... (Ru Ta
Ngậm Ngùi)
Chưa nghe nói có ai đem tình ra phơi như phơi áo bao
giờ. Phơi chỗ nào? Phơi trên cánh môi thơm chứ còn ở
đâu nữa! Đem tình ra phơi cho khô ráo đã là chuyện lạ.
Phơi thế nào mà tình không khô mà nắng lại... khô mới
lạ hơn nữa:
Phơi tình cho nắng khô mau... (Tình Xót Xa Vừa)
Lại có khi là “nắng phơi” chứ không phải “phơi nắng”:
Nắng phơi trên mầu ngói non tươi... (Chiều Trên Quê
Hương Tôi)
Những động từ khác:
Treo: treo tình trên chiếc đinh không... (chưa thấy ai
mắc, máng, treo cuộc tình bao giờ)
Khoác: sương khoác mềm vai phố... (như khoác vai tình
nhân...)
Lùa: lùa nắng cho buồn vào tóc em... (chưa thấy ai lùa,
hay đuổi bắt nắng bao giờ)
Nhặt: tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy... (nhặt đã khó,
giữ càng khó hơn. Muốn giữ cho khéo, cho chặt, cần học
kỹ thuật “Nhốt Gió” của nhà văn Bình Nguyên Lộc)
Lăn: tim lăn trên đường mòn... (nghe như là phim...
kinh dị)
Trói: trong lòng phố mưa đêm trói chân...
Ươm: trời ươm nắng cho mây hồng...
Thắp: ngàn cây thắp nến lên hai hàng...
Khắc: vết buồn khắc trên da...
Chở: có con đò chở nắng mưa đi
Chờ: tôi xin làm nụ cười, chờ em giữa đôi môi...

Người nghe TCS có thể nhặt thêm được rất nhiều động từ
như vậy. Các động từ trên là cũ chứ đâu có mới, nhưng
lại chở theo sau những ý tưởng, những hình ảnh mới mẻ
nên ta tưởng như chúng “mới mẻ”. Những động từ ấy, thả
ra từ ống tay áo của TCS, trở nên linh hoạt hơn, có sức
sống hơn, bắt trí tưởng tượng làm việc nhiều hơn, vì
vậy cũng dễ tạo nên những ảo giác.
Về tính từ, cũng đâu có kém. Chỉ “nắng” và “gió” thôi
cũng đã chở theo rất nhiều tính từ (và các từ loại dùng
như tính từ): “nắng mềm”, “nắng khuya”, “nắng hững hờ”,
“nắng chiều quạnh quẽ”, “nắng rất la đà”; “gió vô
tình”, “gió vô thường”, “ngọn gió hư vô”, “ngọn gió hư
hao”, “ngọn gió hoang vu”, “ngọn gió quạnh hiu”, “gió
mùa thu rất ân cần”...
Cũng phải kể thêm những danh từ được cho làm tính từ:
“nắng thủy tinh”, “đời cơm áo”, “tay rong rêu”, “em hồn
nhiên rồi em sẽ bình minh”, “tôi là ai mà còn trần gian
thế”...
Về danh từ, kể sao cho hết. Khi ông nói đến dòng sông,
con đường, hoa cỏ, chim muông, đấy không còn là dòng
sông, là con đường... hiểu theo nghĩa thông thường. Con
sông không còn là con sông, con đường không còn là con
đường. Những vật thể, hình tượng ấy đều vừa có thực vừa
không có thực, đều nửa thực nửa giả hoặc chỉ là những
khái niệm trừu tượng.
“Dòng sông” chẳng hạn, là biểu tượng của dòng đời, dòng
chảy của thời gian. Dòng sông trong lời nhạc TCS còn
gợi lên những ý niệm về nỗi chia lìa, biền biệt, mất
tăm, mất hút...
Sông bao lần sông đã ra đi...
Có một dòng sông đã qua đời...
Một dòng sông nước cuốn, một cuộc tình không may...
Tôi như chim ưu phiền, bay về cuối dòng sông...
Dòng sông nào đây? Chẳng có dòng sông nào cả.
“Con đường” chẳng hạn, là biểu tượng của cuộc hành
trình, là hướng đi, là sự lựa chọn hay tìm kiếm miệt
mài...
Đường nào dìu ta đến cơn say...
Đường về tình tôi có nắng rất la đà...
Người đi tìm mãi suốt con đường...
Em đi bỏ lại con đường...
Con đường nào đây? Chẳng có con đường nào cả. Chỉ nghe
vậy chứ có thấy đường xá nhà cửa gì đâu. Nào có phải là
“con đường xưa em đi” hay “con đường tình ta đi” đâu.
Làm gì có con đường nào.
“Hoa cỏ” cũng vậy. Khi ông viết về những bông hoa, ta
có cảm tưởng không dễ gì tìm gặp những bông hoa ấy ở
ngoài đời.
Đóa hoa hồng vùi quên trong tay...
Đóa hoa hồng tàn hôn lên môi...
Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời...
Có nụ hồng ngày xưa rớt lại bên cạnh đời tôi đây...
Từ đó ta là đêm, nở đóa hoa vô thường...
Đóa hoa nào đây? Chẳng có đóa hoa nào cả. Làm gì có
chuyện “đóa hoa vô thường”, làm gì có đóa hoa vàng nào
“mỏng manh cuối trời”, làm gì có nụ hồng nào “ngày xưa
rớt lại bên cạnh đời tôi đây”. Những lời ấy thật đẹp
nên ta tưởng tượng những bông hoa ấy cũng phải đẹp lắm.
Kỳ thực, những bông hoa diễm ảo ấy chỉ nở trong những
giấc mơ huyền hoặc hay trong những khu vườn ảo giác.
Đâu có riêng gì hoa cỏ, thực vật, đến cả chim muông,
động vật cũng đều là... giả tưởng.
Đàn bò vào thành phố, không còn ai hỏi thăm...
Đàn bò bỗng thấy buồn...
Ngựa hồng đã mỏi vó, chết trên đồi quê hương...
Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa...
Trong trái tim, con chim đau nằm im...
Liệu có ai chịu tin đàn bò, đàn ngựa, chim chóc ấy
là... có thực! Ngựa trong những lời nhạc TCS cũng “ảo”,
cũng chập chờn như bầy ngựa trong tranh của các nhà
danh họa chuyên vẽ ngựa.
Cũng đâu có riêng gì vạn vật, cỏ cây, đến cả nắng mưa,
gió bão cũng không còn được hiểu theo nghĩa bình
thường. Đây là mưa, là bão:
Có mưa quanh chỗ nằm...
Nghe quanh đời mưa bão...
Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ...
Đây là nắng, là gió:
Đường về tình tôi có nắng rất la đà...
Nghiêng sang em tôi thấy nắng vàng...
Ngọn gió hoang vu thổi buốt xuân thì...
Đến cả thời tiết, mùa màng cũng tùy thuộc vào tâm cảm
chứ không còn là của thiên nhiên, đất trời nữa, vì vậy
mới có những “ta nghe tình đổi mùa” hay “em đứng lên
mùa thu tàn tạ”... Đến cả không gian, thời gian cũng
đều là “giả” là “ảo”, vì vậy mới có những “trong ta
chiều đã tàn” hay “đêm đổ xuống đời ta”... Liệu có cần
phải kể thêm nữa những bầu trời, tinh tú, mặt trăng,
mặt trời...
Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi...
Từ khi em là nguyệt, trong tôi có những mặt trời...
Vườn năm xưa em đã đến, nay trăng quá vô vi...
Trăng thế nào gọi là trăng vô vi? Kỳ thực, chẳng có
trăng, sao gì cả. Mặt trời rực rỡ, chói lọi, cho những
ảo giác về chủ tể, về thông thái, trí tuệ, về siêu
nhiên, siêu hình. Bóng trăng lung linh, huyền ảo, gợi
những ý niệm về lẽ biến hóa ảo diệu của đất trời.
Đến cả những nỗi buồn cũng là “nỗi buồn ảo giác”, vô
cớ, không tên, kiểu “tôi buồn không hiểu vì sao tôi
buồn”, hoặc những nỗi đợi chờ mà... không chờ đợi gì
cả:
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế...
Có một người dường như chờ đợi thật ra đang ngồi thảnh
thơi...
Cuối cùng, chẳng có gì hết. Chẳng có dòng sông, chẳng
có con đường, chẳng có mặt trời mặt trăng, cũng chẳng
có nỗi buồn, chẳng ai chờ ai đợi...
Chưa hết, ta còn gặp những cách ví von, những “có khi”
và “đôi khi”:
Lòng ta có khi mơ hồ, tưởng mình đang là cơn gió...
Đời ta có khi tựa lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do...
Đôi khi thấy trên lá khô một dòng suối...
Đôi khi thoáng nghe bước chân về đâu đó của ai...
Hoặc những “nghe” và “thấy”:
Đêm nghe gió tự tình...
Ta nghe nghìn giọt lệ, rớt xuống thành hồ nước long
lanh...
Ta thấy em đi quanh từng ngọn nến tắt...
Ta thấy em đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa...
Nhiều đêm thấy ta là thác đổ... (Chẳng có gì lạ, nhà
văn Võ Phiến vẫn nghe “Thác Đổ Sau Nhà” hoài. Thác đổ
thật, vì “tỉnh ra có khi còn nghe”).
Tất cả, những trạng thái lửng lơ, lơ lửng “hình như, có
lẽ, chắc là, dường như”, những “nghe” và “thấy”, những
“có khi” và “đôi khi” ấy, “đôi khi” cũng là những tác
nhân gây nên những ảo giác chập chờn, nửa hư nửa thực.
Ngôn ngữ TCS, như vậy, có thể gọi là... “bóng chữ” (nói
như nhà thơ Lê Đạt), chứ chẳng phải chữ với nghĩa gì
nữa!

Chữ và nghĩa:
Vì là “bóng chữ” nên thứ ngôn ngữ ấy không phải lúc nào
cũng dễ hiểu. Thử nêu một, hai ví dụ:
“Đã có điều gì không thật suốt hai mươi năm nay. Một
lầm lỡ đã lên đường và phải đi cho trót con đường máu
xương. Như một mũi tên vô tri bỗng lỗi thời trong một
nhiệm kỳ vô định...,” những dòng chữ ấy trích trong lời
tựa của tuyển tập nhạc “Kinh Việt Nam”, ấn hành năm
1968, viết bằng thủ bút của chính tác giả TCS.
Những lời lẽ thật bí ẩn như là mật mã, như lời sấm
truyền tiên tri về vận mạng đất nước, hoặc như câu thần
chú dùng làm chìa khóa mở cánh cửa kho tàng bí mật nào
đấy. Người đọc ngơ ngác, không hiểu chuyện gì là chuyện
gì (mà không dám nói là không hiểu). “Điều gì không
thật” là điều gì vậy? Giữa hàng trăm hàng ngàn điều có
thật và không thật diễn ra hàng ngày hàng giờ ở quanh
đây, làm sao biết được điều nào là điều nào(?). “Lầm
lỡ” gì vậy? Ai lầm lỡ? Tại sao lầm lỡ? Lầm lỡ thế nào?
(Chắc không phải “ta yêu em... lầm lỡ” hay là “tôi
đã... lầm đưa em sang đây”). Không thấy nói rõ ràng, cụ
thể gì vụ “lầm đường lạc lối” này (hay là không tiện
nói vào thời điểm ấy, nhưng mãi về sau này cũng chẳng
thấy nói năng, nhắc nhở gì đến nữa). Lại còn “con đường
máu xương” nữa, là con đường nào vậy? Chắc không phải
“con đường thập giá” mà đấng cứu thế đã phải vượt qua
để cứu chuộc nhân loại? Chắc cũng không phải là “đoạn
đường chiến binh”, hay “đại lộ kinh hoàng”, hay con
đường mòn “xương trắng Trường Sơn”? “Máu xương” nào,
của lính tráng hay của dân thường, của phe ta, phe địch
hay phe bạn? Tại sao điều “lầm lỡ” ấy lại “lên đường”
và lại còn “phải đi cho trót con đường máu xương”? “Mũi
tên vô tri” nào? “Nhiệm kỳ vô định” nào? Tại sao lại
“lỗi thời”? Những câu hỏi và câu hỏi, e đến cả trăm năm
sau cũng không chắc người đời đã giải mã nổi!...
Những lời lẽ thật mạnh mẽ, đanh thép như một bản cáo
trạng, chỉ tiếc rằng ý tưởng lại lấp lửng, mập mờ, nên
nhiều lắm chỉ có tác dụng trang trí cho tập nhạc, chứ
khó mà thuyết phục hay “vận động quần chúng” nổi, vì...
chẳng ai hiểu gì cả.
Người ta có thể dễ dàng tìm thấy trên những trang viết
của TCS vào thời kỳ ấy, thời kỳ của những phong trào
tranh đấu, lên đường xuống đường, những lời lẽ tương
tự, lắm lúc hừng hực khí thế, rực lửa đấu tranh, và tất
nhiên là không kém phần... bí ẩn. Ngôn ngữ phản kháng
cũng có một vẻ “làm dáng” nào đó chăng(?).
Trong một lá thư ông viết năm 1974, gửi cho người bạn
cùng “chí hướng”, ta đọc thấy những lời sau: “K.
này,... phải chăng hồi chuông báo tử đã được gióng lên
để những gì cần phải tàn tạ hãy tàn tạ nhanh chóng. Khi
con người nhận thấy mình không còn gì để bị tước đoạt
thêm nữa thì đứng dậy và lên đường. Nếu cần phải ngạc
nhiên chỉ là tự hỏi vì sao vận hội mới của nhân dân lại
trễ nãi quá vậy...”(2)
Người đọc dễ dàng nhận ra cái “style” của TCS, cũng là
những đao to búa lớn của những “hồi chuông báo tử”,
“vận hội mới của nhân dân”, “đứng dậy và lên đường”...
Cái “style” ấy đôi lúc cũng đi vào trong ca từ TCS.
Không phải ai cũng hiểu được những gì ẩn nấp đằng sau
những đường kẻ nhạc và những câu, chữ như là:
Từng lời tà dương là lời mộ địa, từng lời bể sông nghe
ra từ độ suối khe... (Một Cõi Đi Về)
Thật bí ẩn như những dòng chữ khắc trên vách đá của một
hang động bí mật nào đấy. Thật bí ẩn đến độ ngay chính
tác giả bài hát cũng... lắc đầu chịu thua, chẳng biết
cắt nghĩa ra làm sao! Hỏi, ông trả lời: “... Đây là một
bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu, có những câu
trong bài này bản thân tôi cũng thấy khó giải thích.
Viết thì viết vậy nhưng để giải thích rõ ràng thì thật
là khó...”(3) Rồi ông đi tới kết luận theo cách của
ông, để khỏi phải giải thích, giải nghĩa gì cả: “Tôi
nghĩ, trong nghệ thuật, điều quan trọng nhất là làm thế
nào để mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim của
mình đến trái tim của người mà không cần phải cắt nghĩa
gì thêm”(3)
“Không cần phải cắt nghĩa gì thêm,” nói văn vẻ là như
vậy, nói nôm na là hiểu được thì tốt mà không hiểu
thì... rán mà hiểu. Lý do chính đáng là bản thân ông
còn chưa hiểu nổi, còn hiểu chập chờn, thì lấy gì mà
đòi hiểu! Điều này cũng cho thấy những ý tưởng ông đưa
vào bài nhạc là những ý tưởng chưa rõ nét, chưa ra hình
ra dạng, vẫn còn lửng lơ, lơ lửng như “khói trời mênh
mông”! Nói khác đi, “bài hát rất lạ” ấy (và nhiều bài
khác nữa) chỉ là những bản nháp (draft), những bản vẽ
phác thảo. Điều khôi hài là trong lúc ông còn đang loay
hoay tìm kiếm, người thưởng thức nhạc của ông cũng...
loay hoay tìm kiếm cùng với ông.
Những câu, chữ mà ông gọi là “khó giải thích” có rất
nhiều trong ca từ TCS, đại loại:
Loài sâu ngủ quên trong tóc chiều... (Dấu Chân Địa
Đàng)
(Câu này chỉ để... dọa đàn bà, con gái)
Mặt trời như trái cây tuyệt vọng... (Níu Tay Nghìn
Trùng)
(“Trái Cây Đau Khổ” tập 2 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
chăng?)
Môi em hồng như lá hư không... (Gần Như Niềm Tuyệt
Vọng)
(“Lá diêu bông” đã khó tìm, “lá hư không” còn khó hơn)
Cơn mưa là nắng vô thường... (Mưa Mùa Hạ)
(Cơn nắng có là... mưa vô thường?!)
Có thể kể thêm một chuỗi những “hư” và “vô” như: hư ảo,
hư vô, hư không, vô tận, vô vi, vô thường... là những
từ ông vốn sính dùng, lặp đi lặp lại nhiều lần, đôi lúc
có hơi lạm dụng. “Vô thường” ở một vài chỗ thì OK,
nhưng không phải đặt vào chỗ nào cũng... vô thường được
cả (như câu hát ở trên). Cứ như lối dùng chữ kiểu này
thì bất luận thứ gì góp mặt góp tiếng trên thế gian này
thảy đều “vô thường” cả và đều có thể ghép vào hai chữ
“vô thường” được (mà không sợ... vô nghĩa). Chữ nghĩa
cho dù có “sáng tạo” tới đâu cũng không thể tùy tiện
ghép ngược ghép xuôi, ghép ngang ghép dọc, muốn ra kiểu
nào thì ra.
Hiểu được tường tận từng câu từng chữ trong ca từ TCS
là điều không thể. Đi tìm những ý tưởng lẩn khuất phía
sau những ngôn từ ấy, nghĩa là những “ẩn ngữ” (“behind
the lines” hoặc “between the lines”) lại càng khó hơn.
Chưa kể đến những “phát minh” lạ lùng trong chữ nghĩa,
đôi lúc kỳ quặc, khó hiểu, như “lời buồn thánh”, “vết
lăn trầm”, “giọt hư không”, “giọt vô biên”... Lúc đầu
người nghe còn thấy lạ tai, riết rồi quen dần, mặc ông
nhạc sĩ muốn nói gì thì nói, chẳng mấy ai còn thắc mắc
hay bận tâm tìm hiểu. Cũng tựa như ngày trước chẳng ai
bận tâm đến chuyện đúng sai, phải trái trong những câu
hát quen thuộc, vẫn nghe đi nghe lại:
Mùa thu mưa bay cho tay mềm... (mưa bay thì... mưa bay,
làm sao tay lại mềm được?)
Lùa nắng cho buồn vào tóc em... (lùa nắng, đâu phải
chuyện dễ! Nắng thì phải... vui, mưa mới là buồn chứ!)
Ngày xưa sao lá thu không vàng... (lá thu ngày xưa ngày
nay gì lại chẳng... vàng!)
Những câu trên ở trong bài “Nắng Thủy Tinh”. Chẳng có
cái “logic” nào cả, chẳng có nghĩa đen nghĩa bóng,
nghĩa xa nghĩa gần gì cả, cũng chẳng có phương pháp
phân tích lý luận nào để giải thích cho hợp tình hợp lý
cả. Chỉ có chịu hay không chịu, thích nghe hay không
thích nghe, thế thôi. Đừng hỏi tại sao, đấy là cách tốt
nhất, hay nhất để mà thưởng thức nhạc TCS.
Trong ngôn ngữ TCS, “chữ” không phải là “nghĩa” (như
“chữ nghĩa” nói theo lối thông thường). Chữ là chữ,
nghĩa là nghĩa. Chữ và nghĩa không sánh đôi với nhau,
không là bạn đồng hành của nhau, vì thế không thể giải
thích “chữ” để cho ra “nghĩa”. Nói cách khác, trong
“chữ” của TCS, nghĩa cũ (nghĩa thông thường) được nới
rộng thêm, hoặc được ghép thêm những nghĩa mới. Nghĩa
cũ, nghĩa mới đôi lúc xen lẫn vào nhau. Thường, người
nghe nhạc TCS không hiểu hay cảm thấy khó hiểu khi
“đụng” phải những nghĩa mới này. Cái nghĩa “mới” ấy làm
người nghe đôi lúc “khựng” lại. Thế nhưng ta cũng lại
yêu thích ngôn ngữ TCS qua những chữ mới, nghĩa mới
này.
Như vậy, TCS không chỉ làm mới “chữ” (như nhiều người
vẫn nói), ông còn làm mới “nghĩa” nữa. “Nghĩa” ấy vượt
ra khỏi những khuôn khổ, những hàng rào quy ước. Vì vậy
mới có những “nắng mềm”, “nắng khuya”, “mưa hồng”, “mưa
xanh”, “giọt máu cuồng điên”, “giọt máu trổ bông”, “đôi
môi rồ dại”, “đôi vai lụa mát”, “biển rộng hai vai”,
“biển hẹp tay người”... vân vân và vân vân. Cách chung,
ta có thể nói được là ông đã làm mới ngôn ngữ, bằng
những “phát minh” tân kỳ. Từ đó, ta hiểu được tại sao
đôi lúc không thể giải thích hoặc không thể giải thích
theo lối thông thường ngôn ngữ TCS.

2. Ảo giác thưởng thức nhạc TCS
“Hạnh phúc là một tách café và nhạc TCS.”
Đó là một trong những định nghĩa về hạnh phúc, ghi lại
được trong một tuyển tập những bài nhận định về âm nhạc
và con người TCS, ấn hành ở Việt nam (Một Cõi Trịnh
Công Sơn, nxb Thuận Hóa, 12/2002). Tôi không rõ người
nói hay viết câu ấy đã căn cứ vào đâu để đưa ra định
nghĩa này. Thực trạng đời sống và sinh hoạt ở trong
nước chắc. Bao nhiêu là quán xá lớn, nhỏ ở ngoài đường,
trên phố thường xuyên “chơi” nhạc TCS để thu hút khách,
để những người khách bước vào đó tìm kiếm chút hạnh
phúc.
Hạnh phúc như thế thì cũng đơn giản. Ngồi quán hay ngồi
nhà, người ta cũng có thể có được những phút giây trầm
tư nhìn từng giọt café chảy từng giọt, từng giọt, trong
lúc lắng nghe tiếng nhạc TCS, để suy gẫm chuyện đời, để
chiêm nghiệm về cõi sống cõi chết, về phận người phận
mình, hay chỉ để ngậm ngùi tiếc thương về một cuộc tình
đã mất, để thấy...
tình đi âm thầm, nghìn trùng như vết sương...
tình ngỡ đã phôi pha, nhưng tình vẫn còn đầy...
lòng ta trăm con hạc gầy vút bay...
ta như con đường dài vắng người...
đời mình là những quán không...
tôi chợt nhìn ra tôi..., tôi tìm thấy tôi...
Tôi tìm thấy tôi. Như thế không phải là hạnh phúc sao?
Khi con người cảm thấy hạnh phúc, đấy là hạnh phúc, dù
chỉ phút giây thôi “cũng đủ lãng quên đời”. Âm nhạc
TCS, như thế, theo một nghĩa nào đó, vẫn luôn góp mặt
trong những sinh hoạt của cuộc sống thường ngày. Ở đây
lại gợi mở ra vấn đề khác nữa, âm nhạc và đời sống.
Phải chăng, cho dù cuộc sống có nổi trôi, có bôn ba
“đời cơm áo”, người ta vẫn không thể quên đi âm nhạc,
vẫn không thể sống mà thiếu âm nhạc, vẫn muốn đi tìm
chút hạnh phúc nhỏ nhoi trong âm nhạc.
Nhạc TCS, và café, và khói thuốc, và men bia men
rượu,... và tất cả những gì cộng thêm vào, thêm vào,
đều có tác dụng làm tăng thêm ảo giác về một hạnh
phúc... vô thường.
“Hạnh phúc là...”, câu định nghĩa trên có thể đúng theo
nghĩa ấy, hay ít ra cũng đúng với những người cùng chia
sẻ khoảnh khắc hạnh phúc ấy, cái khoảnh khắc được sống,
được làm “người đi trên mây” (nói theo nhà văn Nguyễn
Xuân Hoàng), có nghĩa là được thả trôi bềnh bồng hay
đắm chìm trong một màn sương ảo giác.

Hiểu hay không hiểu:

Đặc điểm nổi bật trong ca từ TCS là tính... mơ hồ. Khi
hát hay nghe nhạc TCS, chúng ta cho là chúng ta hiểu
nhưng đồng thời chúng ta cũng không chắc là chúng ta
hiểu. Đôi chỗ hiểu, đôi chỗ không hiểu; đôi lúc hiểu,
đôi lúc không hiểu. Hiểu ít hiểu nhiều, hiểu đúng hiểu
sai, vừa hiểu lại vừa không hiểu, tất cả cứ lẫn vào
nhau nên ta không thể biết chắc là ta hiểu hay không
hiểu.
Hiểu như thế nào gọi là hiểu? Hiểu như thế nào là hiểu
đúng? Lấy đâu ra câu trả lời. Có khi mỗi người hiểu một
cách, chẳng ai giống ai, chẳng biết ai đúng ai sai.
Thành thử, hiểu cách nào cũng chỉ là hiểu theo cách
riêng của mình, không thể nói người này hiểu đúng,
người kia hiểu sai. Nghe nhạc TCS, vì vậy, tưởng khó
hiểu mà thành ra dễ hiểu, vì muốn hiểu sao thì hiểu,
không hiểu cũng không sao, cũng không cần phải cố gắng
để hiểu, miễn cứ thích nghe thích hát, miễn cứ thấy...
hay là được!
Không hiểu, hay không hiểu rõ lắm nhưng vẫn làm như
hiểu, vẫn làm ra vẻ thông thái, uyên bác như là thông
hiểu hết mọi lẽ, mọi chuyện (những vô thường, vô vi, hư
vô, hư ảo...). Cái tâm lý ấy khá phổ biến, cũng chẳng
khác mấy hiện tượng “làm dáng trí thức” của các chàng
sinh viên ở miền Nam một thời, vẫn thích kè kè trên tay
những pho sách dày cộm nói về những “mặt trời không bao
giờ có thiệt”, những vực sâu và “hố thẳm của tư tưởng”
(tương tự “đỉnh cao của trí tuệ”, nói theo ngôn ngữ
khoa trương ở trong nước bây giờ), dù có khi chẳng hề
đọc lấy một chữ nào. Nếu có khác thì đấy chỉ là một
kiểu thời trang, có tính giai đoạn, trong lúc “hiện
tượng TCS” kéo dài trường kỳ, nhiều năm, lại phổ biến
rộng rãi hơn, không hạn chế trong một giới, một đối
tượng nào. Có phải là âm nhạc chiếm ưu thế hơn hay còn
do những yếu tố nào khác nữa(?).
Kể ra, không hiểu thì cũng khó mà thấy hay, thấy đẹp,
khó mà thấy thích được. Trước hết, cần phải hiểu mới
nói chuyện được. Cũng không thể nói “tôi hiểu mà tôi
nói không được”. Nói như thế là vẫn chưa thực sự hiểu,
là vẫn chỉ hiểu đại khái, là vẫn còn mơ hồ. Khen hay,
phải nói được tại sao hay, hay ở chỗ nào. Chê dở, cũng
phải nói được tại sao dở, dở ở chỗ nào. Liệu người ta
có thể yêu cái mà người ta không hiểu rõ lắm, không
biết rõ là cái gì, và cũng không cần tìm hiểu cho ra
lẽ, như yêu tranh lập thể, yêu thơ tự do, yêu nhạc giao
hưởng, và... nhạc TCS?
Ca từ TCS, như chính tác giả thú nhận “... bản thân tôi
cũng thấy khó giải thích. Viết thì viết vậy nhưng để
giải thích rõ ràng thì thật là khó.”(3)
Thế nghĩa là sao? Người nghe không hiểu, người hát
không hiểu, người viết ra những lời ấy cũng... chỉ hiểu
mơ mơ màng màng, cũng chẳng biết đằng nào mà giải
thích. Vậy thì ai hiểu, ai giải thích được đây? Có lẽ
nào cả ba ta (người nghe, người hát, người viết) đều
chẳng ai hiểu... ai cả. Đến chỗ này mới thật là.. khó
hiểu!
TCS, không khéo ta bị ông chơi khăm mất. Hệt như một
người ra câu đố hóc búa, những người khác bấm đầu nặn
óc suy nghĩ, sau cùng hoặc chịu thua, hoặc đưa ra những
lời giải đoán khác nhau, đến lúc mọi người yêu cầu giải
đáp thì người ra câu đố trả lời tỉnh queo “tôi cũng
không biết, tôi cũng... chịu thua”. Thế không phải chơi
khăm là gì?
Chưa hết, người viết những ca từ ấy còn cho biết là
“cần phải có một linh cảm nhạy bén và một vốn kiến thức
nhất định”(3) mới có thể hiểu được cái hay, cái đẹp
trong những ca khúc TCS. “Tôi gặp không ít người,” ông
nói thêm, “dù họ ít học nhưng họ lại thích, hỏi họ có
hiểu không thì họ trả lời không hiểu, nhưng họ lại cảm
nhận được có một cái gì đó ở bên trong, nên khi nghe
hay khi hát lên thì có một điều gì đó chạm đến trái tim
của mình...”(3)
Liệu đúng là “có một điều gì đó chạm đến trái tim của
mình” hay không, tôi không được rõ lắm, thế nhưng qua
lời ông tôi biết được một điều: kẻ “ít học” thì không
cách chi hiểu được những lời lẽ ấy. Nhạc TCS, như vậy
chỉ dành cho đối tượng có chọn lọc. Kẻ hiểu được và
biết thưởng thức phải là đối tượng “học nhiều hiểu
rộng". Ở đây lại có vấn đề “trình độ” kiến thức, khiếu
thẩm mỹ và thưởng ngoạn nghệ thuật nữa chứ không phải
chơi. Từ đó, tâm lý tỏ ra am hiểu (do đóng kịch, giả
vờ, tự đánh lừa mình) có phát sinh cũng là chuyện tự
nhiên, thường tình. Dần dà, lâu ngày, tâm lý tiềm ẩn ấy
phát triển thành một dạng thức mà nhà văn Nguyễn Mộng
Giác gọi là “ảo giác của trí tuệ”. Chẳng ai muốn thú
nhận cái vốn học ít ỏi của mình, cho dù có ít ỏi thật.
Dẫu không hiểu cũng phải cố làm ra vẻ hiểu. Còn kẻ “học
nhiều hiểu rộng” thì lại càng muốn chứng tỏ cái sở học
mênh mông của mình, chẳng biết nông sâu cỡ nào nhưng
chắc chắn là phải vượt xa tầm hiểu biết hạn hẹp của
những kẻ “ít học”...
Thế nhưng, đến khi tác giả TCS “thật thà khai báo” là
“viết thì viết vậy” chứ cũng không rõ là... viết cái
gì(!), thì kẻ “học ít” lẫn kẻ “học nhiều” đều hụt hẫng,
chới với, xính vính, nhất là kẻ “học nhiều”, vì lỡ bộ.
Tưởng ông biết, hóa ra ông trả lời không biết. Tưởng
ông hiểu, nào ngờ ông nói ông không hiểu. Kẹt quá. Ông
không hiểu ông thì tôi làm sao hiểu ông được. Giá như
ông cứ nhận bừa là ông hiểu đi thì hay biết mấy, khỏi
rắc rối, đỡ phiền phức. Tương tự, sau khi triết lý đủ
thứ về cuộc sống, về tình yêu, về thân phận con
người..., ông kết luận gọn gàng, ngon ơ: “đường trần...
đâu có gì!” (Phôi Pha).
TCS, ông quả là có máu hài hước, chẳng thế mà ông vẫn
thích đùa nghịch, thích trò chơi nhào lộn, tung hứng
chữ nghĩa trong ca từ của ông:
Trong khi ta về lại nhớ ta đi..., hoặc:
Em là tôi và tôi cũng là em..., hoặc
Nào có cái chết đầu tiên, đâu có cái chết sau cùng…...,
hoặc
Còn hai con mắt khóc người một con
Còn hai con mắt một con khóc người...
Về phía người nghe TCS, điều rõ ràng là, thưởng thức
nhạc với tâm lý như đã nói ở trên thì đâu có cần chi
hiểu hay không hiểu.

Hát sai, hát đúng:
Về phía người nghe là như vậy, thế còn phía người hát,
người trình diễn thì sao? Cũng chẳng khác bao nhiêu,
cũng hiểu đúng hiểu sai, hiểu đại khái, hoặc... không
hiểu. Vì vậy mới có không ít trường hợp ca sĩ hát lung
tung, thay lời đổi chữ vô tội vạ, trong lúc ra điệu bộ,
nhắm mắt nhắm mũi, khoa tay khoa chân trong một cố gắng
để diễn tả điều mà người hát có khi... chẳng hiểu gì
cả. “Hát thì hát vậy...”, nói theo lối TCS, thì làm sao
mà lôi cuốn, mà truyền được cảm xúc cho người nghe.
Chuyện hát đúng hát sai kể ra không hết, có khi chỉ
thay đổi, thêm, bớt một chữ thôi cũng làm thay đổi hẳn
ý nghĩa câu hát, làm mất đi ít nhiều “chất” TCS, chẳng
hạn:
Chữ “mong” trong “đời ta hết mong điều mới lạ” (Đêm
Thấy Ta Là Thác Đổ) được nhiều ca sĩ đổi thành “mang”
(... hết mang điều mới lạ). Hai chữ này khác nghĩa chứ
đâu phải chỉ khác một nguyên âm. “Mong” (không phải
“mang”), đó mới là ngôn ngữ TCS.
Chữ “miệng” trong “miệng cười khúc khích trên lưng”
(Quỳnh Hương) được nhiều ca sĩ đổi thành “nụ” (nụ cười
khúc khích...). Nụ cười thì không thể... khúc khích
được, và cũng không hình dung được chiếc cằm xinh xắn
của cô bé tựa trên lưng chàng trai...
Chữ “em” trong “em qua công viên mắt em ngây tròn” (Còn
Tuổi Nào Cho Em) được ca sĩ KL đổi thành “nai” (... mắt
nai ngây tròn). Mắt nai, mắt phượng, mắt bồ câu không
thuộc về ngôn ngữ TCS. Ông có những cách để tả về đôi
mắt nai mà không cần phải nói “mắt nai”.
Chữ “vầng” trong “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt”
(Một Cõi Đi Về) được ca sĩ DT đổi thành “vòng” (... đôi
vòng nhật nguyệt). Ở đây là vầng thái dương, vầng
trăng, chứ không phải vòng trời đất, vòng càn khôn...
Hơn nữa, vầng thì còn “rọi suốt trăm năm...” được chứ
vòng thì... chịu.
Chữ “tim” trong “con tim yêu thương vô tình chợt gọi”
(Một Cõi Đi Về) được rất nhiều ca sĩ đổi thành “tinh”
(con tinh yêu thương...), khiến nhạc TCS đôi lúc biến
thành nhạc... kinh dị! Lỗi là lỗi in ấn khá phổ biến ở
các tập nhạc, có điều người hát vẫn cứ hát tỉnh queo,
người nghe vẫn cứ nghe thoải mái mà không có ý kiến,
mặc dù ai cũng biết “một cõi đi về” vẫn còn là cõi
dương chứ chưa phải cõi âm nên không dễ gì có chuyện ma
quái, yêu tinh hiện hình giữa ban ngày.
Trong nhiều trường hợp, chữ hay nhất, “đắt” nhất trong
câu bị tráo đổi không thương tiếc, làm hỏng một câu hát
(có khi làm hỏng cả một bài hát), khiến người nghe bị
“khựng” lại như bất ngờ nhai phải hạt sạn trong lúc
đang thưởng thức bữa cơm ngon miệng:
Chữ “phút” trong “vội vàng thêm những phút yêu người”
(Chiếc Lá Thu Phai) được ca sĩ TVT (cô em gái TCS) và
nhiều ca sĩ đổi thành “lúc” (... những lúc yêu người)
làm giảm mất cái hay và ý nghĩa rất nhiều, vì không
diễn được cái ý “vội vàng” và “yêu từng... phút, giây”,
như muốn chạy đua với chiếc kim thời khắc của tình yêu.
Tương tự, chữ “phút” trong “có chút lệ nhòa trong phút
hôn nhau” (Bay Đi Thầm Lặng) cũng không thể đổi thành
“lúc” được. “Phút” (không phải “lúc”), đó mới là ngôn
ngữ TCS.
Chữ “suốt” trong “rọi suốt trăm năm một cõi đi về” (Một
Cõi Đi Về) được các ca sĩ TN, DT... đổi thành “xuống”
(rọi xuống trăm năm...) cũng làm giảm mất cái hay và ý
nghĩa rất nhiều (cứ làm như rọi là phải rọi xuống chứ
không rọi... lên được). “Suốt” (không phải “xuống”), đó
mới là ngôn ngữ TCS.
Nhiều trường hợp khá buồn cười: một ca sĩ hát sai vì
quên lời, những ca sĩ khác hát sai theo, riết rồi không
ai buồn sửa lại cho đúng. Ví dụ: ca sĩ hát đến câu
“thành phố hoang vu như...” (Tình Xa) thì không nhớ
được là “hoang vu như...” thế nào(?), hay chỉ nhớ mang
máng, đành hát bừa “hoang vu như... một lần qua cuộc
tình”. Thế là từ đó các ca sĩ khác cũng hát theo như
vậy cho... tiện. Ca sĩ KL nghe vậy không chịu, bèn...
đảo ngược lại, thành ra “... như... cuộc tình qua một
lần”. Đổi qua đổi lại, sai vẫn cứ sai. Câu đúng là
“thành phố hoang vu như đời mình, như cuộc tình”, chứ
không có “đi qua, đi lại”, “một lần, hai lần” gì cả!
Hoặc, một số ca sĩ thích thêm chữ “vùi” vào cuối câu
hát “không có ai đời đời ru anh ngủ...” (Hát Cho Người
Nằm Xuống) để trám một nốt nhạc bỏ trống (mà không rõ
dụng ý của người nhạc sĩ cố ý chừa một khoảnh khắc yên
lặng ở cuối câu nhạc để làm đọng lại cảm xúc, rồi mới
chuyển sang ý tiếp “... mùa mưa tới, trong nghĩa trang
này có loài chim thôi”. Hơn nữa, ta nói “ru em ngủ”,
“ru anh ngủ”, hoặc “anh ngủ vùi”, “anh ngủ say”..., chứ
không nói “ru anh ngủ vùi”, “ru anh ngủ say”, “ru anh
ngủ ngon”...
Có trường hợp ca sĩ thay lời đổi chữ trong câu hát vì
muốn làm tốt hơn, nhưng vẫn... không tốt hơn được,
chẳng hạn ca sĩ TN hát đến câu “có khi nắng khuya chưa
lên” (Chiều Một Mình Qua Phố), thấy... không ổn (làm gì
có “nắng khuya” bao giờ), bèn đổi thành “... nắng mưa
chưa lên”, nhưng nghe... vẫn không ổn (ta nói “nắng
lên” chứ không nói “mưa... lên”. “Mưa xuống” thì được).
Lại có những bài nhạc mà ca từ được thay đổi tùy hứng,
tùy tiện, đến... vô nghĩa.
“Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng. Em là tôi và
tôi cũng là em...” (Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng), câu hát
ấy được ca sĩ TL đổi thành “... anh ơi đừng tuyệt vọng.
Anh là tôi, và tôi cũng là... ai?” Câu hát vốn khó hiểu
lại được làm cho thêm... khó hiểu! (Câu dưới may mà
chưa được đổi thành “anh hồn nhiên, rồi anh sẽ bình
minh...”). Đã thế tiết tấu bài nhạc cũng thay đổi (rộn
ràng, sôi nổi), đánh mất khí hậu của bài hát là bức
tranh ảm đạm của buổi tàn thu. Nội dung bài hát, như
tác giả TCS cho biết, là “nỗi lòng của kẻ tuyệt vọng”.
“Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng” không phải dễ hát đâu. Thử
nghe kỹ, để ý những nốt nhạc “quạnh quẽ”, “nhè nhẹ”...
có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ
có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên...
Không phải chất giọng Huế đố hát được những chỗ này.
Chỉ giọng Huế mới nghe ra “quạnh quẽ”, “nhè nhẹ”. Lại
còn phải hát thế nào để diễn tả cho được nỗi niềm của
kẻ đang mấp mé bên bờ tuyệt vọng.
Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo, con diều rơi cho vực
thẳm buồn theo...
Con diều bay, đó là mảnh linh hồn vật vờ, là cánh lá
khô héo úa của mùa thu “rơi rụng giữa mùa đông”.
Về lối trình diễn, thường thì ca sĩ tùy nghi thể hiện,
ra điệu bộ, uốn éo, làm duyên làm dáng. Kỹ thuật ngân
nga, luyến láy cũng tùy tiện, khi ngẫu hứng có thể bẻ
quặt một nốt nhạc, gào rú điên loạn với giọng đớt đớt
“đá đa, đá đa đa...” để diễn tả cơn sướng ngất của “tìm
nhau trong hạnh phúc vô thường” ở cuối bài “Còn Mãi Tìm
Nhau”, như phong cách biểu diễn của một vài ca sĩ ở
trong nước. Tất cả, đều là những lối diễn xuất giả tạo,
vô hồn.
Chuyện ca sĩ hát sai lời là phổ biến, ở đây không có ý
bình phẩm công việc “ca hát ngày tháng cho người mua
vui” của người nghệ sĩ mà chỉ cốt, qua ít ví dụ kể
trên, nêu lên một trong những biểu hiện của lầm lạc
trong nhận thức, do không hiểu, không hiểu rõ hoặc
không hiểu đúng. Thực tế, người hát muốn hát sao cũng
được, hát thế nào cũng xong, vì người nghe vốn dễ dãi,
ít có để ý chuyện đúng, sai.
Cũng vì ít có để ý, cứ hát là hát, cứ nghe là nghe
thôi, nên có những chỗ dễ hiểu mà ít ai chịu hiểu. Một
người bạn hỏi tôi: “‘Một cõi đi về’ là đi về... đâu?”.
Thực ra, nghĩa hai chữ “đi về” ở đây không phải như là
“đi về đâu hỡi em, khi lòng không chút nắng...” (Đời
Gọi Em Biết Bao Lần). “Một cõi đi về” được hiểu và có
thể viết lại là “một cõi đi, về” (có dấu phẩy [,] giữa
hai chữ “đi” và “về”), có nghĩa là “một cõi đi và về ”.
Tương tự, có thể viết lại: “có hai mùa vẫn đi, về” (Em
Còn Nhớ Hay Em Đã Quên), hoặc “lặng nghe gió đi, về”
(Lời Buồn Thánh), hoặc “đi, về một mình tôi” (Một Ngày
Như Mọi Ngày). Tương tự, có thể viết lại: “về đây đứng,
ngồi” (Chiếc Lá Thu Phai), có nghĩa là “về đây hết đứng
lại ngồi”. Hoặc “xe, ngựa về ngủ say” (Một Ngày Như Mọi
Ngày), có nghĩa là “xe và ngựa...” (không phải là xe
ngựa, xe bò). Hoặc “mười năm tắm, gội” (Chiếc Lá Thu
Phai), có nghĩa “...tắm và gội”. Hoặc “có con đường nằm
nghe nắng, mưa”, và “có con đò chở nắng, mưa đi” (Em
Còn Nhớ Hay Em Đã Quên) đều có nghĩa “nắng và mưa”.
Ca từ TCS, như chính tác giả phát biểu, “thực sự không
dễ hiểu”, vì thế, cũng chẳng biết như thế nào gọi là
hiểu. Thôi thì hiểu tới đâu hay tới đó, hiểu sao cũng
được, không hiểu được cũng... không sao.

Thơ hay không thơ:
Saigon xua tan nghìn dấu lệ
cho em bây giờ mắt tình đưa...
Nếu không biết là hai câu trên ở trong một bài hát của
TCS (Hai Mươi Mùa Nắng Lạ), nhiều người dễ tưởng đấy là
hai câu thơ. Tôi vẫn thích những câu “thơ” như trên,
thỉnh thoảng nhặt được trong ca từ TCS, thế nhưng, nói
rằng TCS là “nhà thơ” như nhiều người vẫn gọi, tôi lại
không mấy tán đồng. “TCS là nhà thơ”, đấy cũng là
chuyện “một người nói, nhiều người nói theo”. Nói ông
có tâm hồn thơ, hoặc ca từ của ông nghe rất “thơ” thì
ai cũng dễ dàng đồng tình. Phong tặng cho ông nhiều
danh hiệu quá, đôi lúc khá dễ dãi, e không nên, vì đặt
bên cạnh “nhạc sĩ TCS”, cái “nhãn hiệu” đã trở thành
phổ biến và quen thuộc đối với rất nhiều người, những
danh hiệu ấy thực sự chẳng mang ý nghĩa gì cả. Khoác
thêm cho ông bất cứ danh hiệu nào khác nữa đều không có
tác dụng gì nhiều lắm và cũng không làm cho ông nổi
tiếng hơn. (Ca từ của nhạc sĩ Văn Cao chẳng hạn, những
Bến Xuân, Thiên Thai, Suối Mơ... cũng rất “thơ”, rất
đẹp, tựa như “bài thơ bên suối” vậy. Không chỉ viết
nhạc, người nghệ sĩ tài hoa ấy còn vẽ tranh, còn làm
thơ, thế nhưng gọi ông là họa sĩ hay thi sĩ Văn Cao, có
khi người ta tưởng nói đến... ông Văn Cao nào khác, vì
ông quá nổi tiếng như là một nhạc sĩ). Nhạc sĩ TCS, thế
là đủ. Hoặc, cứ gọi ông là... TCS, không cần phải nhạc
sĩ, thi sĩ gì cả, người ta đủ biết ông là ai. Có lẽ ông
cũng chỉ muốn như vậy. Không nên bắt ông nhận một lúc
đến mấy danh hiệu, ông chẳng thiết tha gì, và cũng
chẳng sợ ai dành mất những danh hiệu ấy.
Tất nhiên, ai muốn gọi sao thì gọi, muốn phong cho ông
tước hiệu gì thì phong. Hôm nay ông là “thi sĩ”, ngày
mai người ta cũng có thể gọi ông là “văn sĩ” (không rõ
ngoài “Chú Lộ”, ông có viết thêm truyện ngắn truyện dài
nào), là “họa sĩ” (ông từng vẽ tranh và có triển lãm
tranh chung với những người bạn họa sĩ), là “ca sĩ” hay
“ca nhạc sĩ” (đã từng có người nói “không ai hát nhạc
TCS hay bằng TCS”!), là “triết gia” (ông từng đưa triết
học vào âm nhạc, và trông ông cũng có vẻ là một triết
nhân lừng khừng), và là... “đạo sĩ” nữa không chừng
(trông ông cũng có cốt cách, phong thái của các ông Bùi
Giáng, Phạm Thiên Thư... lắm chứ!).
TCS, trước hết ông phải là một nhạc sĩ, là người viết
ca khúc (phản chiến, tình yêu, quê hương, thân
phận...). Nếu ông là nhà thơ thực sự thì ta đã thấy
những thi phẩm “Thơ TCS tập 1, tập 2...” vân vân bày
bán ngoài các tiệm sách, chứ không phải là những ca
khúc, những tình khúc TCS. Trời không sinh ra ông để
làm thi sĩ, và ông cũng đã chọn con đường sáng tác nhạc
chứ không phải sáng tác thơ. Nếu đôi lúc ông có những
phút ngẫu hứng mà phóng bút làm thơ hay vẽ tranh thì
cũng chỉ là những bước dạo chơi sang khu vườn nhà hàng
xóm. Tất nhiên, chẳng ai cấm một nhạc sĩ làm thơ, hoặc
một thi sĩ sáng tác nhạc (thực tế, đã có nhiều nhà văn
nhà thơ lạc bước sang khu vườn âm nhạc). Người ta gọi
TCS là “nhà thơ”, đơn giản chỉ vì trong nhạc ông có
“thơ”. Điều này thực ra chưa đủ để ông nhanh chóng biến
thành một nhà thơ. Đã có người từng nêu thắc mắc với
ông, “Sao nhạc của ông nghe ‘thơ’ quá vậy? Ông có làm
thơ bao giờ chưa?” Và ông trả lời, “Đối với tôi, âm
nhạc cũng là thi ca. Đôi lúc ngẫu hứng và vui với bạn
bè tôi cũng làm thơ. Những bài thơ, tiếng Việt và tiếng
Pháp, thường được làm trong quán rượu và thường bị tôi
quên đi...”(3)
Hơn thế nữa, đâu có riêng gì TCS, trước ông, ta từng có
nhiều nhạc sĩ mà tâm hồn rất thi sĩ và ca từ của những
vị này cũng rất “thơ” nữa (ai cũng có thể kể tên ra
được), nhưng trước sau họ vẫn là nhạc sĩ. Có thể nói,
trong mỗi ông nhạc sĩ của chúng ta đều ít nhiều có một
ông thi sĩ. Hiểu theo nghĩa ấy, ta mới có được cái nhìn
đúng đắn, không lẫn lộn giữa “nhạc” và “thơ” TCS.
cho em bây giờ mắt tình đưa...
Nghe câu ấy là phải nghe câu hát (chứ không nghe câu
thơ) mới “nghe” hết cái hay. Nốt láy mỏng ở chữ “tình”
nghe như cái liếc xéo của đuôi mắt thật bén, thật
ngọt...
Có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau
Có những vực bờ chôn theo tình đầu
Đấy cũng là câu hát. Nếu là câu thơ, “vực bờ” sẽ đổi ra
“vực sâu”. Câu hát không đổi được, vì lệ thuộc vào âm
vực thấp cao, trầm bổng của nốt nhạc.
Trong ca từ TCS, người ta dễ dàng tìm thấy những câu
“thơ” rải rác. Thơ lục bát, thơ ba, bốn, năm, sáu, bảy,
tám chữ, và cả thơ... tự do nữa. Có những bài hát đẹp
như một bài thơ (Nắng Thủy Tinh, Như Cánh Vạc Bay,
Nguyệt Ca, Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ, Xin Trả Nợ Người, Ru
Tình, Hai Mươi Mùa Nắng Lạ, Có Một Dòng Sông Đã Qua
Đời...). Ít “câu thơ” dẫn ra dưới đây gồm cả những câu
rất TCS, và... không TCS.
Có khi cả bài hát là một bài “thơ” mà những chữ cuối
trong câu toàn vần “bằng”, nghe ra có một khí hậu rất
mênh mang của mùa thu:
Tình như lá bỗng vàng, bỗng xanh
em ra đi như thoáng gió thầm
qua con sông nhớ người đã xa
. . .
Thành phố vẫn nắng vàng, vẫn mưa
cây sang thu lá úa rơi mù
chuyện ngày xưa heo hút trong mơ...
(Tạ Ơn)
Lại có trường hợp, có thể sắp xếp lại thứ tự những câu
hát rời rạc trong một bài hát khá đặc biệt để có được
một bài thơ... đặc biệt:
Im lặng của đêm tôi đã lắng nghe
Im lặng của ngày tôi đã lắng nghe
Im lặng của đời tôi đã lắng nghe
Im lặng thở dài tôi đã lắng nghe

Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài
Tôi đã lắng nghe im lặng cuộc tình
Tôi đã lắng nghe im lặng đời mình
Tôi đã lắng nghe im lặng của tôi
(Tôi Đang Lắng Nghe)
Những câu dưới đây chắc phải là “thơ”, vì đọc (hoặc
ngâm) nghe hay hơn là... hát:
Người phu quét lá bên đường
quét cả nắng vàng quét cả mùa thu
(Góp Lá Mùa Xuân)
. . .
Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy
để mắt em cười tựa lá bay
(Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui)
. . .
Ta về nơi đây phố xưa dấu đạn
Con đường bên sông cỏ lá buồn tênh
Ta về nơi đây tháng năm quá rộng
Đường xưa em lại thấp thoáng bàn chân
(Khói Trời Mênh Mông)
. . .
Còn đây những đêm này
còn em hãy yêu tôi
đời đốt nến chia phôi
dù nhớ thương cũng hoài
(Còn Có Bao Ngày)
Những câu trên là những câu có vẻ “thơ TCS” hơn cả.
Trong lúc tranh TCS chịu ảnh hưởng những người bạn họa
sĩ của ông, “thơ” của ông cũng đôi lúc chỗ này một chút
Bùi Giáng, chỗ kia một chút Phạm Thiên Thư... Thử đọc
một đôi câu rất “Bùi Giáng” (một trong những thi sĩ ông
hằng ngưỡng mộ):
em đi bỏ lại con đường
bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em...
em đi bỏ lại dặm trường
ngàn dâu cố quận muôn trùng nhớ thêm
(Em Đi Bỏ Lại Con Đường)
Cũng “cố quận”, cũng “muôn trùng”, cũng “dặm trường”,
cũng “vô thường”, cũng “em đi”, “em về”..., chỉ cần
thêm vào những “chuồn chuồn”, “châu chấu”, hoặc “liên
tồn”, “lá cồn”, “rớt hột”... là có thể bỏ vào trong một
tập thơ nào đó của “trung niên thy sỹ” họ Bùi. Hoặc:
môi xinh ở đậu người xinh
đi đứng ở trọỉ đôi chân Thúy Kiều
(Ở Trọ)
Những “Thúy Kiều”, “Kim Trọng”, “Quỳnh Như” và... “Kim
Cương” nữa đều nằm cả trong thơ Bùi Giáng... Hoặc ít
câu lục bát TCS (phỏng dịch từ “Hán Tự Hài Cú” của Ngô
Văn Tạo):
bên sông, dấu cũ nhà xưa
những ngày thơ ấu dạ thưa mộng gì
Những “dạ thưa, thưa rằng...” rất quen thuộc kiểu Bùi
Giáng, đại loại “ồ thưa em ta thấy mộng không
thường...” (Ly Tao, Bùi Giáng).
Một vài ca khúc TCS cũng mượn ý hoặc phát triển từ câu
thơ của thi sĩ nổi tiếng lập dị này. “Con Mắt Còn Lại”
chẳng hạn, lấy ý từ câu thơ:
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con
(Mắt Buồn, Bùi Giáng)
Hoặc, “Tôi Ơi, Đừng Tuyệt Vọng” cũng lấy ý từ một câu
thơ khác:
Em bảo rằng, “đừng tuyệt vọng nghe không”...
(Phụng Hiến, Bùi Giáng)
Những “câu thơ” rải rác trong các bài về đạo, về thiền,
như Nguyệt Ca, Giọt Lệ Thiên Thu, Đóa Hoa Vô Thường...
chẳng hạn, “rằng hay” thì có hay, nhưng “nghe ra” vẫn
cứ phảng phất cái hơi hướm Phạm Thiên Thư thế nào.
Khác với nhạc TCS, nếu ông không ký tên vào dưới mỗi
bài thơ, mỗi bức tranh thì người ta khó mà biết được
rằng đấy là thơ, là tranh TCS. Theo tôi, ngoài âm nhạc,
những bài viết ngăn ngắn mà ông gọi là “tạp bút ngẫu
hứng” của ông có vẻ mang nhiều dấu ấn TCS hơn là những
bức tranh, những bài thơ...
Cái đam mê thứ hai của TCS, sau âm nhạc, là hội họa,
chứ không phải thi ca, và nếu bắt ông phải chọn lựa
giữa thi và họa, tôi chắc ông chọn làm họa sĩ hơn là
thi sĩ, vì hai lẽ: thứ nhất, ông có vẻ gắn bó với thế
giới của màu sắc hơn; thứ hai, với cây cọ và trên khung
vải, ông được tự do hơn để vẽ ra những giấc mơ mà ông
đã không thể hiện được trong âm nhạc. Hơn thế nữa, ông
từng có lần nói về những thú tiêu khiển: “Tôi dự định
sẽ chia tay với âm nhạc để viết những bài tạp bút ngẫu
hứng và vẽ.”(3) Tại sao lại vẽ (chứ không phải làm
thơ)? Ông cho biết: “Tôi yêu hội họa cũng như âm nhạc.
Có lúc lòng say mê hội họa trong tôi còn vượt hơn cả âm
nhạc. Vẽ đối với tôi là một niềm say mê đặc biệt. Đã
đụng màu vào toile là không dứt ra được, mầu này kêu
gọi mầu khác.”(3) Ông còn giải thích thêm: “Hội họa là
cõi trú thứ hai của tôi bên cạnh cõi trú âm nhạc. Khi
ngôn ngữ và âm nhạc bất lực thì màu sắc lên tiếng để an
ủi và ru dỗ tôi...”(3)
Sau cùng tôi vẫn nghĩ rằng, cho dù có là thơ, văn,
nhạc, họa hay gì gì đi nữa, cho dù người đời có muốn
tặng cho ông hay lấy đi của ông những tên tuổi, những
danh xưng danh hiệu nào, có muốn gọi ông bằng bất cứ
tên gọi nào, trước sau ông vẫn cứ là... TCS, không hơn
không kém. Thế thôi.

Triết lý hay không triết lý:
“Tôi vốn ưa thích triết học và vì thế tôi muốn đưa
triết học vào những ca khúc của mình,”(3) TCS giải
thích về việc người ta tìm thấy những triết lý ẩn chứa
trong ca từ của ông.
Những triết lý tản mạn được ông “đưa vào những ca khúc
của mình” có thể dễ dàng tìm thấy trong một số bài hát,
một số câu hát. Những triết lý ấy không mới (nếu không
phải cũ kỹ), hoặc nếu có mới chỉ là mới ở cách thể hiện
bằng “ngôn ngữ TCS”. Hơn thế nữa, những triết lý ấy hầu
hết đều nằm trong những pho sách ở “tàng kinh các” của
nhà Phật. Đó là những “triết lý” về số kiếp, về định
mệnh, về “sắc sắc không không”, về “lẽ vô thường của
đất trời”, hoặc những giáo điều khá phổ biến mà không
ai không biết, như “đời là bể khổ trầm luân”, “oán thù
nên giải không nên kết”... vân vân. Chính ông cũng thừa
nhận: “Phật giáo tác động rất sâu xa trong đời sống tâm
linh của tôi. Cái phần siêu hình trong ngôn ngữ của tôi
là do ảnh hưởng của Phật giáo... Không hiểu sao, những
năm gần đây, tôi thường nghĩ về Phật giáo như là một
tôn giáo mang nhiều tính hiện sinh nhất. Bắt đầu bằng
chữ sát na, một đơn vị thời gian siêu nhỏ. Phải biết
sống hết mình trong mỗi sát na của thực tại...”(4) Ông
phấn khởi, hồ hởi tìm thấy nơi triết lý nhà Phật con
đường giải thoát, và còn hăng hái rủ rê mọi người cùng
theo ông đến gõ cửa thiền: “Với tôi, Phật giáo là một
triết học làm cho ta yêu đời hơn, chứ không phải làm
cho ta lãng quên cuộc sống.(4) Đó là một thứ triết học
siêu thoát mà ai cũng cần phải học, ngay cả những người
thuộc tôn giáo khác. Mỗi người cần phải nỗ lực để xây
dựng cho bằng được một ngôi chùa tĩnh lặng trong lòng
mình. Nó sẽ giúp ta nhìn thế giới khác đi, nhìn cuộc
sống khác đi. Với tôi, đó cũng là thiền, là một cách
sống đích thực...”(4)
Thiền, liệu đấy có phải là “một cách sống đích thực”?
Ai sẽ trả lời câu hỏi này? Chỉ biết rằng “Hãy Cứ Vui
Như Mọi Ngày”, “Để Gió Cuốn Đi”, “Nguyệt Ca”, “Đóa Hoa
Vô Thường”, “Giọt Lệ Thiên Thu”... và những bài về sau
nữa nghe đẫm hương thiền, trong lúc người viết những ca
khúc ấy vẫn còn đang dọ dẫm những bước đầu “khái niệm
nhập môn” để phấn đấu trở thành một môn sinh của Thiền.
“Tôi đang tập hành Thiền về sự lãng quên,” ông cho biết
thêm. “Lãng quên những gì không cần thiết cho đời và
cho chính bản thân mình”(4)
Liệu ông còn phải tập tành đến bao lâu, đến mức nào mới
gọi là đủ công phu, nội lực để lọt hẳn được vào cánh
cửa thiền (không phải chân trong chân ngoài)? Liệu ông
có “thiền” nổi, có “lãng quên” nổi, hay rồi cũng chỉ là
“quên trong nỗi nhớ” (Nguyệt Ca) hoặc “tưởng rằng đã
quên, nhưng tim yếu mềm...” (Tưởng Rằng Đã Quên).
Ông thích “triết lý” về sự sống, về cái chết, về tình
yêu, về thân phận con người..., bằng những góp nhặt và
vay mượn từ những mảng triết học từ đông sang tây, chỗ
này một ít, chỗ kia một ít.
“Đời cho ta thế, những sớm tối không đổi thay...” (Đời
Cho Ta Thế), định mệnh chỉ cho ta một quả chanh, hãy
vui vẻ đón nhận, hãy vắt lấy nước mà uống. Triết lý
“thỏa hiệp với nghịch cảnh” ấy ta nghe đã từ lâu lắm.
“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, chọn những bông hoa và
những nụ cười”

(Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui), không phải đợi cho
tới lúc những câu hát ấy được ông viết ra, người ta mới
thấu hiểu được ý nghĩa của triết lý sống đơn giản ấy.
Hạnh phúc ở quanh đây, hạnh phúc thật bình thường, cái
“nghệ thuật sống” ấy từng được nhiều người biết đến, có
khi còn trước cả ông Lâm Ngữ Đường nữa.
Triết lý về nhân sinh ấy được đẩy xa thêm chút nữa
thành ra những “hãy cứ vui chơi cuộc đời” (Hãy Cứ Vui
Như Mọi Ngày), “còn cuộc đời ta cứ vui” (Để Gió Cuốn
Đi), “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” (Mưa Hồng).
Đến đây thì những câu hỏi “tôi là ai mà yêu quá đời
này? Tôi là ai mà còn trần gian thế?...” (Tôi Ơi, Đừng
Tuyệt Vọng) bắt đầu được đặt ra... “Tôi là ai?” hoặc
“tôi hiện hữu hay không hiện hữu?”, những vấn nạn đại
loại như thế đã có từ nhiều năm trước, khi mà tuổi trẻ
ngày ấy mới bước đầu làm quen với những tên tuổi A.
Camus, J.P. Sartre. Thế nhưng, đây lại là một kiểu hiện
sinh khác, theo như TCS giải thích: “... không phải
hiện sinh theo kiểu sống vội sống vàng, mà ở đây, con
người sống bình thản trong từng sát na”(3). Một trong
những lập luận vẫn thường được TCS nhắc đi nhắc lại,
như một phát kiến của nhà tư tưởng: “Tôi hát là tôi
hiện hữu. Tôi tồn tại cũng có nghĩa là tôi sẽ mất đi.
Tôi mất đi nhưng tiếng hát còn ở lại. Tiếng hát còn ở
lại cũng có nghĩa là tôi hiện hữu.”(4). Cứ theo lối lập
luận ấy, ông đã không thừa nhận là ông “mất đi” sau khi
ông... mất. Trước đây, ông vẫn phủ nhận những quy luật
về tuổi tác và nhất định “không chịu già”. Nay, ông
đứng vào hàng ngũ những người “không chịu chết”, mặc dù
chính ông cũng là người viết “Cát Bụi”.
Thử nghe lại “Cát Bụi”, một trong những ca khúc khá phổ
biến của TCS, mang tính triết lý về thân phận con người
(trở thành bài hát chính tiễn đưa ông trong ngày ông
“về làm cát bụi”). “Để một mai tôi về làm cát bụi” thì
không có gì mới (cát bụi trở về cát bụi, ai cũng biết).
“Ôi, cát bụi mệt nhoài” thì có mới hơn (mặc dầu từ
nhiều năm trước đó, nhà thơ cũng tên với ông, Nguyễn
Đức Sơn, cũng từng nói đến “cát bụi mệt mỏi”). “Mệt
nhoài” vì những nỗi gian truân, những lao đao giữa cuộc
sống, những lận đận của kiếp người... “Ôi, cát bụi
tuyệt vời” cũng mới hơn. Thật là tuyệt vời khi rũ sạch
nợ trần (hay phủi sạch bụi trần) để lại được hóa thân
về làm... cát bụi!
“Tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi...” là “tiếng
động”gì vậy? Giữa đời sống cơ hồ bị bủa vây bởi trùng
trùng thanh âm, bởi trăm nghìn tiếng động, làm sao biết
được tiếng động nào là tiếng động nào? Bao nhiêu người
hát, bao nhiêu người nghe, ít có ai đặt câu hỏi. Tiếng
động nghe được và không nghe được. Tiếng động có tên và
không tên. Có thể là tiếng búa nện đinh trên nắp quan
tài. Hoặc, có thể là tiếng động “tích tắc” gõ nhịp đều
đặn của chiếc kim đồng hồ, từng ngày từng giờ vận
chuyển những vòng lăn của chiếc bánh xe thời gian.
Hoặc, có thể là tiếng mưa nhỏ giọt, từng giọt từng giọt
trong đầu (“có mưa quanh chỗ nằm...”). Hoặc, có thể, có
thể..., và còn biết bao nhiêu loại tiếng động khác nữa
giữa cuộc sống bộn bề. Thử nghĩ xem, ông nhạc sĩ muốn
nói điều gì? Thử nghe qua vài loại tiếng động lạ thường
trong những lời nhạc của ông:
đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm... (Còn Có Bao Ngày)
có tiếng tù và hối thúc trong tim... (Bay Đi Thầm Lặng)
một chiều đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa... (Một Cõi
Đi Về)
Lại còn có cả một bài nhạc (Nghe Tiếng Muôn Trùng) nói
về đủ thứ đủ loại tiếng động mà chỉ có mỗi mình ông
nghe được.
Tiếng động, nỗi ám ảnh thường trực, không nguôi, không
dứt, không rời, chính là nỗi ám ảnh về cái chết, về cát
bụi, đeo đẳng theo ông mãi một đời.
Tiếng động là ảo giác.
Làm gì có tiếng động nào. Làm gì có triết lý nào. TCS,
đôi lúc ta thấy ông như đang loay hoay cố tìm kiếm điều
gì đó mới mẻ, nhưng tìm chưa thấy, kiếm chưa gặp, nên
vẫn cứ loanh quanh luẩn quẩn, vẫn còn chạy lòng vòng.
Trước sau ông vẫn chỉ như một con người suy tưởng, một
nhà tư tưởng (thinker) hơn là một triết gia, dù đôi lúc
ông có điệu bộ lừng khừng hoặc trầm tư của một triết
nhân.
Khi nghe nhạc TCS là khi ta lên đường cùng với ông, đi
tìm kiếm những lời giải đáp, những câu trả lời về thân
phận, về tình yêu, về cuộc sống, về cái chết, về đủ mọi
vấn nạn trong cõi nhân sinh này. Những câu hỏi đại
loại: “tôi là ai, là ai, là ai...?”, hoặc lắm lúc chỉ
là những câu hỏi bâng quơ “làm sao, thế nào...?” tưởng
như vớ vẩn, lẩm cẩm: “làm sao em biết bia đá không
đau?”, “làm sao em biết đờụi sống buồn tênh?” “Làm sao,
làm sao...?” Những câu hỏi cứ dấy lên mà không bao giờ
có được lời giải đáp. Những câu hỏi “như từng viên đá
cuội rót vào lòng biển khơi” (Tình Nhớ), hoặc theo cách
nói của ông, những câu hỏi ném vào hư vô, hư không, hay
hư... gì gì đó!
TCS không phải là người đầu tiên “muốn đưa triết học
vào những ca khúc”. Trước ông khá lâu, Phạm Duy chẳng
hạn, đã có những tâm ca, rồi đạo ca, thiền ca... Về giá
trị nghệ thuật, từ “Đóa Hoa Vô Thường” đến những bài
phổ thơ Phạm Thiên Thư của Phạm Duy như “Đưa Em Tìm
Động Hoa Vàng”, “Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu” vẫn còn là
những khoảng cách. (Tương tự, “Còn Mãi Tìm Nhau” là một
cố gắng khác để viết lại “Tìm Nhau”, một sáng tác của
Phạm Duy, năm 1956. Ở Phạm Duy: “tìm nhau trong cơn
gió”, ở TCS là “tìm trong gió vô tình..., tìm trong
ngọn gió hư vô”. Ở Phạm Duy: “ tìm nhau khi nắng đổ”, ở
TCS là “tìm trong nắng hững hờ”. Ở Phạm Duy: “tìm nhau
trong mưa bão”, ở TCS là “tìm khi gió mưa về” . Ở Phạm
Duy: “tìm nhau trong muôn thuở”, ở TCS là “tìm nhau
giữa vô cùng”. Ở Phạm Duy: “tìm nhau như thiên cổ tìm
ngàn thu”, ở TCS là “tìm xa vắng muôn trùng……..., tìm
nhau ta hẹn với đời nhau”. Sau hết, ở Phạm Duy: “gặp
nhau, đôi tâm hồn được nghỉ ngơi”, ở TCS là “tìm nhau
trong hạnh phúc vô thường”. Trong lúc Phạm Duy vẫn còn
miệt mài “tìm trong câu thơ cổ, tìm qua tranh tố nữ,
tìm...” thì TCS có lẽ đã... thấm mệt nên tạm thời từ bỏ
ý định “còn mãi tìm nhau”!...).
Trở lại chuyện triết lý hay không triết lý? Kỳ thực,
chẳng có triết lý nào cả, chẳng có triết học nào “đưa
vào những ca khúc” như TCS nói. Những triết lý ấy (nói
cho có vẻ “triết lý”), thực chất là giáo lý, tiềm ẩn
trong tôn giáo, hay nói đúng hơn, là những mảnh vụn
triết lý vay mượn, sao chép trong kinh Phật. Những
“triết lý” ấy thực sự không xa lạ gì đối với tín đồ
Phật giáo, đối với một phật tử thuần thành như TCS.
Phật giáo, nói như TCS, đấy là một thứ “triết học siêu
thoát”, chứ không hẳn chỉ là một tôn giáo. “Tôi đang cố
gắng quên Phật giáo như một tôn giáo,” ông nói, và còn
thêm rằng ông không “tìm đến với Phật, mà là trở về với
Phật tính trong cõi riêng mình”(4). Ông gọi đó là
“chiếc ngai Phật”. “Tôi ngồi, Phật sẽ tràn ngập tôi và
tôi sẽ tràn ngập Phật”(4). Càng về cuối đời, hay càng
cận kề nỗi tuyệt vọng, người ta càng có khuynh hướng
đến gần với tôn giáo, điều này cũng dễ hiểu và cũng
giải thích trường hợp TCS. Dù là “tìm đến với Phật” hay
“trở về với Phật tính”, dù có muốn “quên Phật giáo như
một tôn giáo” thì tôn giáo ấy cũng đã là chỗ dựa, là
đôi nạng nhiệm mầu cho ông tựa vào để gắng gượng sống,
để có đủ sức chống trả và hóa giải mọi bủa vây nghiệt
ngã, hay ít nhất cũng đã vỗ về, trấn an ông, cũng đã ít
nhiều tạo cho ông cái ảo giác là ông có thể an nhiên tự
tại trong cõi sống đầy hệ lụy này. Tôn giáo là con
đường cứu rỗi, là chiếc phao cho kẻ sắp chết đuối là
ông bám vào, khi mà sự tuyệt vọng và cái chết là hai
nỗi ám ảnh không rời trong những năm tháng cuối đời.
Ông đã nói về tôn giáo của ông như những lời rao giảng
về đức tin, về chân lý trong một bài thuyết pháp. Ông
đã tin vào tôn giáo như tin vào một thứ triết học siêu
thoát. Ông đã tập hành thiền để mong “siêu thoát”, để
tìm sự lãng quên, thế nhưng mục đích của hành thiền đâu
có phải là để lãng quên. Chẳng ai tập lãng quên được
cả. Ai cũng biết khi muốn quên là khi lòng còn nhớ; khi
muốn “thoát” là chưa dứt nợ trần. Ông không quên, ông
chỉ muốn tìm quên; ông chưa thoát, ông chỉ muốn được
thoát,và đấy là những điều ông “muốn”, chứ không phải
là ông đã đạt được.
Tôn giáo, sau cùng đã cho ông được những gì? Liệu ông
có đủ vật liệu (đức tin, sự bền bỉ, lòng quyết tâm...)
để xây được “ngôi chùa tĩnh lặng trong lòng mình”. Đâu
cần phải xây dựng những ngôi chùa nguy nga, những đền
đài tráng lệ, chỉ cần một cái am nhỏ thôi, tôi nghĩ,
với một chút lòng thành, cũng đủ cho ông tìm gặp được
chính mình.
Liệu ông có thực sự tin vào những lời rao giảng của
chính mình hay chỉ... nửa tin nửa ngờ? Liệu “đức tin”
ấy có “cứu” được ông? Chắc không ai có được câu trả lời
rõ ràng hơn chính ông: “Những đấng tối cao, có lẽ đã
ngủ quên cùng với chân lý...,”(3) sau cùng ông đã phải
thốt lên như vậy. Trong nỗi tuyệt vọng, ông phải lần dò
đi gõ từng cánh cửa, kể cả cánh cửa tình yêu để khẩn
cầu “Chúa đả bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người, này
em, xin cứu một người...” (Này Em Có Nhớ).
Triết học, sau cùng đã cho ông được những gì? Chắc cũng
không ai có được câu trả lời rõ ràng hơn chính ông:
“Tôi đang muốn quên đi những trang triết lý, những luận
điệu phỉnh phờ...,”(3) ông nói thẳng thừng. Tất cả,
những gì ông đã dày công nghiền ngẫm, sục sạo..., rốt
cuộc đều là giả trá, bịp bợm cả hay sao? “Những luận
điệu phỉnh phờ”, khi nói thế, ông cũng đã “triết lý”
vậy. Chỉ có điều, triết lý ấy đã ứng dụng cho cả chính
ông, đã quay ra phỉnh phờ cả chính ông.
Tôn giáo là triết học hay triết học là tôn giáo? TCS,
ông đã đồng hóa hai thứ ấy. Triết học và tôn giáo chỉ
là một. Ông đã tìm thấy trong tôn giáo của ông những
triết lý đời thường mà ông tin rằng có thể ứng dụng
được để cứu rỗi ông, để giúp ông tìm được sự bình ổn
trong tâm hồn. Điều đó cũng giải thích tại sao ông đã
“muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình”.

Nhạc và lời:
Trong một thời gian rất dài, trên bìa của các nhạc phẩm
ấn hành ở hai miền Nam Bắc, bên dưới cái tựa của bài
nhạc luôn luôn là hàng chữ “Nhạc và Lời”, ghi tên tuổi
của tác giả. Trừ một ít trường hợp phổ thơ và phổ lời
của người khác, hầu hết nhạc và lời đều cùng một tác
giả. Vì là nhạc phẩm (không phải là thi phẩm, họa
phẩm...), mọi người đều ngầm hiểu rằng phần nhạc là
chính, lời là phụ. (Tất nhiên, nhạc hay và lời cũng hay
thì bài nhạc càng thêm phần giá trị). Trường hợp TCS
lại không phải như vậy. Dù là thưởng thức hay bình phẩm
về âm nhạc của ông nhạc sĩ này, mọi người có lúc gần
như đã quên đi phần “nhạc” để chỉ nói đến “lời”. Tại
sao lại như vậy, có điều gì nghịch lý chăng?
Giá trị nghệ thuật của âm nhạc TCS là ở lời hơn là ở
nhạc. Nếu tước bỏ phần lời, e chẳng còn gì. Các dĩa
nhạc độc tấu, hòa tấu TCS bán lềnh khênh ngoài cửa
tiệm, dẫu phần kỹ thuật, nghệ thuật có được chăm chút
tới đâu cũng ít được giới yêu nhạc chiếu cố. Người ta
“nghe” nhạc TCS là nghe những lời ông nói trong bài
nhạc ấy chứ không nghe dạo nhạc, chơi nhạc (trừ một ít
bài). Các nhạc sĩ đàn anh của TCS như Phạm Duy, Văn Cao
không “chê” nhạc của ông, nhưng không tìm ra chỗ nào để
khen. Ông Văn Cao chỉ nói: “Trong âm nhạc của Sơn, ta
không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc
bác học tây phương... Những lời, ý đẹp và độc đáo đến
bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình
thức của dân ca, hầu như không thay đổi...”(5). Ông
Phạm Duy thì nói: “Về phần nhạc, toàn thể ca khúc TCS
không cầu kỳ, rắc rối, vì nằm trong một số nhạc điệu
đơn giản... Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm
theo, nếu hòa âm phối khí rườm rà thì không hợỉp với
những bài hát soạn theo thể ballade này”(1). Hai bậc
đàn anh này đều tỏ ra “đàn anh” và tử tế: khen chỗ nào
đáng khen, chỗ nào không khen được thì cũng không chê!
Cả hai ông đều chỉ nói lướt qua phần “nhạc”, trong lúc
đưa ra những lời ngợi khen về phần “lời” (ta hiểu rằng
phần nhạc... không có gì để nói nhiều).
“Nhạc điệu đơn giản” và “hầu như không thay đổi” theo
lối nhận định trên còn được hiểu là đơn điệu, trùng
lặp. Những trùng lặp này dễ dàng tìm thấy ở những câu
nhạc trong những bài nhạc khác nhau. Tiếng đàn đệm
guitare “phừng phừng” trong những băng nhạc mà ta nghe
được (thường là “Ca Khúc Da Vàng”) trong những quán
café một thời nào, thường chỉ một điệu duy nhất, rõ
ràng là không lấy gì làm hấp dẫn, vậy mà tuổi trẻ ngày
ấy vẫn chịu khó ngồi quán hàng giờ để thưởng thức, đủ
để thấy cái sức thu hút nằm ở lời ca chứ đâu phải tiếng
nhạc.
Những trùng lặp cũng không phải chỉ ở phần nhạc mà còn
ở phần lời nữa. Những ý tưởng trong “Một Cõi Đi Về”
chẳng hạn, có thể tìm thấy rải rác trong “Một Ngày Như
Mọi Ngày”, “Lặng Lẽ Nơi Này”, “Giọt Lệ Thiên Thu”...
Trong một số bài TCS, ca từ lấn lướt hẳn giai điệu. Có
nhiều bài, đọc lời ca thấy hay nhưng khi hát hoặc nghe
hát thì lại không nghe ra được cái hay ấy, hoặc cái
hay... giảm đi. Trong một bài nhận định trước, tôi có
nêu nhận xét “lời TCS hay đến mức, ở một đôi bài, nhạc
không bắt kịp lời” (nhận xét này cũng được nhiều người
tán đồng) cũng là nằm trong ý này. Đó là những bài mà
lời ca “đọc” nghe hay hơn là “hát”, chỉ vì giai điệu
tầm thường hoặc lời một đằng nhạc một nẻo, thiếu cân
xứng, tự nhiên. Lời có đẹp nhưng nhạc lại không đủ sức
nâng, thành thử “nhạc và lời” đều không bay lên được.
Kết quả, một số bài hát tuy có hay ở phần lời nhưng lại
ít được phổ biến, không đến được với người yêu nhạc.
Lâu nay tôi vẫn không trả lời được rõ ràng mỗi khi có
người hỏi “thích bài nào của TCS?”. Thường thì tôi khá
lúng túng để tìm tên một bài hát nào đó. Bây giờ thì
tôi hiểu tại sao. Tôi không thích hẳn, thích trọn một
bài nào mà chỉ thích đôi ba câu trong những bài hát ấy.
Tôi cũng nhận ra cái lối thưởng thức nhạc TCS tương tự
ở nhiều người khác chứ chẳng phải riêng tôi. Có vẻ
những người yêu nhạc TCS cũng chỉ giữ riêng cho mình
một đôi câu trong bài nhạc nào đó của ông, đôi lúc
không nhớ nổi cái tên. Thành thử, có khi người ta yêu
một bài hát chỉ vì yêu một câu hát, cũng tựa như yêu
một cô gái chỉ vì cái má lúm đồng tiền vậy.
Một cô bạn tôi ngày trước nói rằng cô thích câu “có tôi
trong dáng em ngồi trước sân” trong một bài hát nào đấy
của TCS mà cô không biết hay không nhớ tên. Mãi sau này
tôi mới gặp “Đóa Hoa Vô Thường”, tên bài ấy, và có nghe
đâu một vài lần. Mặc dù bài hát có được một vài nhà
nghiên cứu âm nhạc ca ngợi về giá trị nghệ thuật, trước
sau tôi vẫn không mấy thích, và bài này cũng có vẻ ít
được phổ biến, hiểu theo nghĩa ít người chịu hát, chịu
nghe, chịu thưởng thức. Tôi chịu “Nguyệt Ca” hơn, chịu
“từ khi trăng là nguyệt, đèn thắp sáng trong tôi” hơn
là “từ đó ta là đêm, nở đóa hoa vô thường”. Cô bạn tôi
thì chỉ chọn ra được mỗi một câu trong bài (tôi không
chắc là cô thích bài hát hay chỉ thích câu hát ấy, và
cô cũng chẳng biết câu ấy hát như thế nào nữa). Vậy là
sao? Có thực đấy là bài nhạc hay và giá trị đúng nghĩa?
Những bài giới thiệu, ngợi khen về giá trị và công
trình biên soạn một tác phẩm không làm tác phẩm ấy trở
thành... tác phẩm hay. Việc thẩm định bao giờ cũng
thuộc về phía những người thưởng ngoạn. “Đóa Hoa Vô
Thường” khó được đón nhận, tán thưởng vì những cái khó:
khó hát, khó diễn tả, khó hiểu, và vì... vô thường quá!
Dường như sở trường của TCS là những ca khúc ngắn, bố
cục gọn. Dòng nhạc của ông chỉ quanh quẩn nơi những
khúc sông, chưa một lần nào đổ ra biển. “Đóa Hoa Vô
Thường” chỉ là một thử nghiệm. (Thực ra ông cũng đã
từng “thử nghiệm” một lần với “Dã Tràng Ca”, trong thời
kỳ đầu sáng tác, nhưng cũng không thành công. Bài hát
không phổ biến, ít người biết). Dù đã từng là vận động
viên chạy bộ, TCS chỉ quen chạy những quãng ngắn, nay
đổi sang chạy đường dài ông dễ bị hụt hơi.
Tôi cũng nhận ra thêm một điều, dường như ít có được
bài nhạc nào của TCS gọi là hoàn hảo, hầu như bài nào
cũng có một, hai chỗ hỏng, chỗ vụng, khi thì ở lời, khi
thì ở nhạc. Những bài nhạc vẫn như một phác thảo, một
tác phẩm không toàn bích, một nhan sắc không toàn vẹn,
vẫn như thiêu thiếu một cái gì. Được đoạn đầu thì không
được đoạn cuối hay đoạn giữa. Được một, hai câu hay thì
lại vấp phải một hai câu vụng... Đôi khi, tôi nghĩ,
cũng chính vì cái thiêu thiếu ấy mà người nghe vẫn muốn
nghe thêm, vẫn muốn đi tìm, để mong một lúc nào đó sẽ
tìm gặp.
Không phải là tác giả TCS không thấy được những khiếm
khuyết ấy. Ông cũng thừa nhận: “Bố cục trong âm nhạc
tuy chặt chẽ nhưng cũng có những khoảng tưởng như vụng
về. Cái vụng về ấy là cố ý như chiếc răng khểnh hoặc
nốt ruồi trên khuôn mặt đẹp”(3). Những vụng về cố ý,
đấy chỉ là cách nói để người ta dễ bỏ qua những khiếm
khuyết. Ta có thể nhìn thấy những “chiếc răng khểnh
hoặc nốt ruồi” ấy nằm đâu đó trong số những bài nhạc
của ông, có khi ở câu hát, có khi ở giai điệu. “Nhớ Mùa
Thu Hà Nội” chẳng hạn, ca khúc sáng tác sau năm bảy
mươi lăm, đẹp cả nhạc lẫn lời, và còn là bức họa sinh
động có một khí hậu rất Hà nội. “Hà nội mùa thu, đi
giữa mọi người, lòng như thầm hỏi tôi đang nhớ ai(?).
Sẽ có một ngày trời thu Hà nội trả lời cho tôi, sẽ có
một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôi...” Bài hát
sẽ là những lời tả tình tả cảnh về một nơi chốn quê
hương thật là đẹp, nếu không lọt ở đâu vào câu kết ở
phần coda nghe khá... vô duyên và lạc điệu “... mùa thu
Hà nội, nhớ đến một người, để nhớ... mọi người” (như
một cố gắng thêm vào để đi đúng bài bản chính sách
“mình vì mọi người, mọi người vì mình”). Chữ “mọi
người” lặp lại hai lần một cách cố ý, vừa nói đến cái
riêng là phải quay về cái chung ngay để tránh bị quy
chụp là... lãng mạn tiểu tư sản.
Ví dụ kể trên, là một trong nhiều ví dụ, dẫu có là “nốt
ruồi trên khuôn mặt đẹp”, nói như TCS, chắc không phải
là nốt ruồi duyên.
Đặc điểm ở kết cấu, bố cục trong những bài nhạc TCS là
tính chắp vá, tản mạn. Câu trước và câu sau lắm khi
chẳng có một mắt xích liền lạc nào. Những ý tưởng rời
rạc gom góp lại thành bài hát. Thậm chí có thêm hay bớt
một vài câu cũng không làm thay đổi hay thiệt hại gì
đến bài hát, hoặc cho đoạn cuối, đoạn giữa lên trên,
đoạn đầu xuống dưới như ca sĩ TN hát “Một Cõi Đi Về”
cũng được như thường. (Có ca sĩ lại còn “chế” thêm hai
câu cuối cho bài hát này, đại khái “say sưa”, “ngủ
nghê” hay “tiếc một thời xuân” gì gì đó..., chẳng có
dính dấp gì đến nội dung bài hát).
Những ý tưởng không liền lạc như thế cũng khiến phát
sinh những kiểu chế biến trong lối trình diễn nhạc TCS
như là “liên khúc TCS”, hoặc ghép chung hai bài nhạc
(nội dung chẳng có chút gì liên hệ với nhau) thành một
bài, như “Cát Bụi-Tình Xa” chẳng hạn, và người nghe vẫn
cứ dễ dàng chấp nhận.
Một số bài nhạc TCS có thể ví như những bài thơ có hay
nhưng không hoàn hảo, người đọc tuy có thích, nhưng chỉ
nhặt ra một vài câu để ngâm nga mà không thích trọn
bài. Nghe nhạc TCS, trước sau vẫn chỉ là đón bắt những
ý tưởng tản mạn như những bông hoa lạ và đẹp, để nhìn
ngắm, thưởng thức, và đôi lúc tự tạo cho mình chút ảo
giác dễ chịu trong cuộc sống tẻ nhạt thường ngày.
Tôi không định nhắc đến tên một vài ca sĩ, một vài
giọng hát đã mang đến cho người nghe chút ảo giác “hạnh
phúc là một tách café và nhạc TCS”, nhưng vì tác giả
TCS cũng đã kể ra những tên tuổi này, trong số có Bạch
Yến, người nữ ca sĩ mà ông cho rằng “hát hay nhất ‘Lời
Buồn Thánh’”(6). Tôi chưa được nghe “chiều Chủ Nhật
buồn, lặng nghe gió đi về...” qua tiếng hát của “người
hát hay nhất ‘Đêm Đông’” này, tuy nhiên tác giả bài hát
đã có lời nhận xét như vậy thì chắc là phải đúng thôi.
Nhưng tại sao chỉ có “Lời Buồn Thánh”, những bài khác
thì sao? Hay là chị chỉ hát có mỗi bài ấy? Tôi không
được rõ, thế nhưng tôi biết có những ca sĩ đúng là chỉ
hát hay có một bài nào đó của TCS, như Carol Kim, “Hãy
Khóc Đi Em”; như Elvis Phương, “Này Em Có Nhớ”. Có thể
kể thêm nữa Sĩ Phú, “Nghe Những Tàn Phai”; Vũ Khanh,
“Hai Mươi Mùa Nắng Lạ”; Ngọc Lan, “Đêm Thấy Ta Là Thác
Đổ”; Tuấn Ngọc, “Tôi Ru Em Ngủ”; Duy Trác, “Một Cõi Đi
Về”; Thái Hiền, “Phôi Pha”; Trịnh Vĩnh Trinh, “Tôi Ơi,
Đừng Tuyệt Vọng”... (và còn những bài hát, những giọng
hát nào nữa tôi chưa được biết đến, chưa được nghe
qua).
Riêng Khánh Ly, ca sĩ vẫn được nhiều người và chính tác
giả TCS nêu nhận xét là có “giọng hát phù hợp nhất, thể
hiện đúng tâm trạng bài hát của tôi nhất”(6), tôi vẫn
cho là chị hát “Ca Khúc Da Vàng” hay hơn là những tình
khúc và những ca khúc mang chủ đề khác của TCS (và
chính chị cũng từng nói là chị “yêu những Ca Khúc Da
Vàng hơn bởi vì nó lớn hơn tình ca”). Những lời hát ấy
phải sánh đôi với giọng hát ấy, phải là giọng khắc
khoải, trăn trở, rã rượi, phải là cái giọng khao khao
của con chim đau khản tiếng, phải là giọng hát mang
thương tích, là tiếng kêu bi thương, thảm thiết, có lúc
đứt đoạn, có khi lạc cả giọng, phải là giọng hát chở
theo những định mệnh bất toàn, những nghiệt ngã của
thân phận đất nước, những bất hạnh của cả một dân tộc.
Đâu có dễ tìm một giọng hát như thế... Cũng phải kể
thêm một ít bài TCS khó tìm được ai hát hay hơn chị,
như những “Lời Mẹ Ru”, “Xin Cho Tôi”, “Tình Nhớ”, “Mưa
Hồng”, “Để Gió Cuốn Đi”, “Những Con Mắt Trần Gian”...
Và Lệ Thu nữa, đâu có phải chỉ “hát hay nhất ‘Hạ Trắng’
và ‘Xin Mặt Trời Ngủ Yên’”(6) như TCS nói, tôi cho rằng
cần phải kể thêm nữa những “Cát Bụi, “Tình Xa”, “Ru Ta
Ngậm Ngùi”, “Nắng Thủy Tinh”, “Như Cánh Vạc Bay” (hát
chung với Khánh Ly)... và ít bài trong số những tình
khúc TCS. (Những nhận xét nêu trên là hoàn toàn chủ
quan, không hẳn đã phù hợp đối với nhiều người).

3. Ảo giác tình yêu, sống và chết
Tình yêu:
“Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua
những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến
trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một
nơi vô định... Người con gái đi qua những hàng cây long
não ấy bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống
khác...”(3)
Đấy không phải là chuyện... cổ tích. Người thuật lại
câu chuyện ấy là TCS. “Người con gái rất mong manh”
trong câu chuyện ấy là Diễm, có biệt danh “Diễm Xưa”.
Diễm Xưa, mối duyên không thành của TCS, “đã ở một nơi
xa, đã có một đời sống khác”, thế nhưng câu chuyện vẫn
chưa chịu kết thúc, vì tên nàng hóa thành tên của một
tình khúc TCS rất quen thuộc, và vì người ta vẫn còn
muốn kéo dài thêm nữa câu chuyện kể, vẫn còn muốn đi
tìm một kết thúc đẹp theo nghĩa nào đó, như là một “hậu
Diễm Xưa”, dẫu có hơi cải lương kiểu “rồi hai mươi năm
sau”: cô em gái của Diễm Xưa từ phương xa trở về để tìm
chàng, mong nối lại... “tình chị duyên em”, nhưng mối
“duyên em” ấy cũng không thành, và rồi nàng lại ra đi
về phương trời xa, để cho Diễm Xưa mãi mãi là... Diễm
Xưa. Cái đoạn kết chắp vá khá lâm ly ấy chắc hẳn đã
được thêm thắt từ những câu hát:
Hai mươi năm xin trả nợ người
Trả nợ một thời em đã bỏ ai...
Hai mươi năm vơi cạn lại đầy
Trả nợ một thời môi vắng vòng môi... (Xin Trả Nợ Người)
Câu chuyện đúng, sai thế nào chẳng ai biết được, có
điều khi kể câu chuyện ấy bằng những lời lẽ như “người
con gái rất mong manh..., đi đến một nơi vô định...”,
có vẻ như TCS đã muốn phủ lên Diễm Xưa một lớp sương mù
huyền hoặc và một vẻ diễm ảo, có thực và không có thực.
Diễm Xưa, mối tình đầu của nhạc sĩ họ Trịnh chăng?
Không đâu, đã “không có bài hát đầu tiên, bài hát cuối
cùng”, nói như ông, thì làm gì có tình đầu, tình cuối.
Ý niệm lần đầu, lần cuối trong tình yêu TCS thật mơ hồ:

Đời sẽ buồn như một chiều nao
Hôn nhau lần cuối, hôn nhau lần đầu... (Như Một Vết
Thương)
Cho dù Diễm có là gì, có ra sao đi nữa, ta cũng biết
chắc một điều: Diễm Xưa là mối tình đầu của TCS với âm
nhạc Việt nam. Kể từ Diễm Xưa, “kể từ TCS trở đi, các
tình khúc đã đổi khác rất nhiều, và nền tân nhạc phải
cảm tạ ông về sự khai phá đó”(7), nữ ca sĩ Quỳnh Giao,
người từng thể hiện nhiều bản tình ca cũ, mới qua các
thời kỳ của nền tân nhạc Việt, đã có lời nhận định như
vậy.
Trước Diễm Xưa làm gì có những:
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau...
Làm sao em biết bia đá không đau?...
Sau Diễm Xưa ta mới có những:
Hãy yêu nhau cho gạch đá có tin vui... (Hãy Yêu Nhau
Đi)
Phố em qua gạch ngói quen tên... (Em Còn Nhớ Hay Em Đã
Quên)
Ngày mai em đi sỏi đá trông em từng giờ... (Biển Nhớ)
Tình yêu phả hơi thở, truyền cảm xúc đến cả những vật
thể vô tri vô giác... Đâu đã hết, lại còn những:
Gió sẽ mừng vì tóc em bay, cho mây hờn ngủ quên trên
vai... (Như Cánh Vạc Bay)
Nhớ gì mà nắng vàng cánh rừng, thương ai mà sương khuya
vội vàng buông... (Vẫn Có Em Bên Đời)
Bằng những câu hát như vậy, TCS không chỉ làm mới ngôn
ngữ mà còn vẽ lại khuôn mặt của tình yêu, một khuôn mặt
rất riêng, không giống ai và không ai giống, khiến đôi
lúc ta không hình dung nổi khuôn mặt ấy ra sao, như thế
nào, có hay không, thực hay ảo(?).
“Tôi chỉ có những mối tình lãng đãng, khói sương, hoàn
toàn không có gì cụ thể. ‘Diễm xưa’cũng là một loại
tình yêu như vậy”(3). Sau cùng thì tác giả những “Tình
Khúc TCS” cũng đã giải đáp thắc mắc về những “mối tình”
của mình như vậy. “Không có gì cụ thể”, tôi không rõ
chữ “cụ thể” ấy được hiểu như thế nào. Dầu sao ta cũng
biết được rằng những Diễm (Diễm Xưa), những Nguyệt
(Nguyệt Ca), những Quỳnh (Quỳnh Hương)... vân vân, dẫu
có những giai thoại, những câu chuyện kể (giống nhau và
không giống nhau), đều không có vẻ gì là thực cả, đều
chỉ là những mối tình chắc có chắc không, phất phơ “như
thoáng gió thầm” vậy.
Ta còn gặp những cách ví von khác: tình là “nắng”: tình
mong manh như nắng (Tình Sầu), tình như nắng vội tắt
chiều hôm (Như Một Lời Chia Tay); tình là “gió”: có
chút tình thoảng như gió vội (Như Một Lời Chia Tay),
như là cơn gió, em còn cứ mãi bay đi (Hoa Vàng Mấy Độ);
tình là “lá”: tình như lá bỗng vàng bỗng xanh (Tạ Ơn),
ru em tình như lá, trăm năm vẫn quay về (Ru Tình)...
vân vân và vân vân.
Tình yêu trong nhạc TCS là chiếc bóng lung linh, thấp
thoáng, chập chờn: “tình không xa nhưng không thật
gần...” (Như Một Lời Chia Tay), thoắt ẩn thoắt hiện:
“rộn ràng nhưng biến nhanh...” (Tình Sầu). Những mối
tình “không hẹn mà đến, không chờ mà đi” (Bốn Mùa Thay
Lá), nghĩa là chẳng có hẹn hò, thề thốt chi cả, cũng
chẳng có ràng buộc gì nhau. Tất cả chỉ là “tình cờ”:
“ta gặp tình cờ như là cơn gió (Hoa Vàng Mấy Độ), “coi
như phút ấy tình cờ” (Nguyệt Ca). Nếu có những đớn đau
thì cũng là “yêu trong nỗi đau... tình cờ” (Trong Nỗi
Đau Tình Cờ). Tình yêu tựa như những cánh bèo, như cánh
lá khô trôi theo dòng nước, có chạm vào nhau, rồi cũng
lại dạt ra, mỗi người một dòng chảy, một định mệnh.
Những kẻ yêu nhau trong nhạc TCS dẫu có vươn những cánh
tay thật là dài về phía nhau nhưng vẫn không sao chạm
tay vào nhau được.
Đối tượng chính của tình yêu, người nữ trong những lời
nhạc TCS, gần như cùng một mẫu số chung: nhỏ nhắn, mỏng
manh, những cánh tay dài ngoằng, những đôi vai gầy guộc
như cánh cò cánh vạc, những mắt sâu hun hút, xanh xao,
những đôi môi lửa cháy, những dòng tóc xõa bay ngang
trời, những cánh áo chờn vờn như cánh bướm..., như hình
dạng các thiếu nữ ta vẫn nhìn thấy trong tranh của các
họa sĩ thời thượng trên các bìa sách, các phụ bản thơ,
nhạc, hoặc như những đường nét mờ mờ ảo ảo, lượn lờ,
chầm chậm trôi đi bên trong chiếc đèn kéo quân vậy.
Thực tế, biết tìm đâu cho thấy, biết kiếm đâu cho ra
những mẫu người như vậy. Có lẽ do thể tạng yếu ớt, gầy
gò nên TCS có khuynh hướng ưa chuộng những mẫu phụ nữ
cũng vóc dáng mảnh mai, cũng “vai... anh gầy guộc nhỏ”
như là ông vậy.
“TCS, sao đến giờ này ông vẫn còn độc thân?” đã có
người hỏi ông như vậy. Câu hỏi này chỉ có một mình ông
trả lời được, nhưng ông lại chẳng bao giờ trả lời rõ
ràng cả. “Hình như là tôi không có năng khiếu về việc
xây dựng một tổ ấm riêng cho mình,” ông chỉ nói vậy,
“và đến bây giờ tôi vẫn có thể khẳng định là thói quen
sống một mình không gây khó khăn gì cho tôi cả”(6). Có
phải vì ông không thích bị ràng buộc mà chỉ muốn được
“là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do”, hay vì ông quá nặng
tình với mối tình đầu chưa nguôi, hay vì ông vẫn quý
những tình bạn hơn là tình yêu, hay vì ông có trái tim
quá lớn để có một tình riêng, hay vì..., tất cả đều
không phải là những lời giải thích. Ông không lấy vợ là
vì ông... không muốn lấy vợ, hoặc vì một lý do nào
đó... chỉ mình ông biết. “Tự mình biết riêng mình, và
ta biết riêng ta...” (Ngẫu Nhiên), ông đã chẳng nói vậy
sao? Ông chẳng hề nói cho ai biết, hoặc có nói cũng
không chắc đã nói thật.
Tình yêu là gì? Đã có người hỏi ông như vậy. Và ông trả
lời: “Tôi không thể nói về một vấn đề mà chính bản thân
mình hoàn toàn không hiểu..., và cho đến giờ này, phải
nói thật một điều là tôi cũng không hiểu tình yêu thực
sự đã cho tôi được những gì”(3). Tôi tin là ông nói
thật chứ không phải làm bộ. Ông không ở lại với mối
tình nào và cũng chẳng có mối tình nào ở lại với ông.
Một lần nữa, những người tin theo ông lại bị hụt hẫng,
chới với. Một người từng viết biết bao bản tình ca làm
rung động biết bao trái tim lại nói rằng không hiểu...
tình yêu là gì! Liệu có ai tin được?
Ngay cách ông định nghĩa tình yêu cũng... không giống
ai:
Tình yêu như vết cháy trên da thịt người
Tình yêu như trái chín trên cây rụng rời
Tình yêu như nỗi chết, cơn đau thật dài
Có lúc dữ dội như cơn địa chấn:
Tình yêu như cơn bão đi qua địa cầu
Có lúc lại như là một trong những nhu cầu thực dụng của
con người:
Tình yêu như cơm áo quen hơi ngọt ngào
Những câu hát trên ở trong “Tình Sầu”, một trong những
bài hát tiêu biểu nhất về khuôn mặt của tình yêu, phác
họa qua đường nét của cây cọ TCS. Tôi vẫn cho “Tình
Sầu” là một trong những bài hay nhất của ông nói về
tình yêu.
“Khi bạn hát một bản tình ca nghĩa là bạn đang muốn hát
về cuộc tình của bạn”(4), điều ông nói quả có đúng; hơn
thế nữa, không phải chỉ khi hát, khi lắng nghe một bản
tình ca cũng là khi “lắng nghe im lặng cuộc tình” (Tôi
Đang Lắng Nghe). Người ta thích “Tình Nhớ” vì “tình ngỡ
đã phôi pha, nhưng tình vẫn còn đầy”, thích “Tình Xa”
vì “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”,
thích “Tình Sầu” vì “tình cho nhau môi ấm, một lần là
trăm năm”. Mọi người đều ít nhiều bắt gặp mình trong
những câu hát ấy.
Thực ra, ông thích nói về tình phụ hơn là tình yêu, làm
như là ai đến với ông cũng chỉ rắp tâm phụ bạc ông vậy,
và có vẻ “tình phụ” dễ tạo nguồn cảm hứng cho ông viết
nhạc hơn. “Cái may ở đời là được yêu và đôi khi cái may
ở đời cũng là bị phụ tình,”(3) ông nói thế, không biết
có phải để tự an ủi. Tuy rằng ông không viết thêm “Tình
Phụ” để kết hợp với “bộ ba” Tình Nhớ, Tình Xa, Tình Sầu
(chẳng có tình nào vui vẻ cả), nhưng những tình phụ,
phụ tình vẫn trải đầy trong những lời nhạc của ông.
Ru em phụ rẫy trong ta...
Yêu em, yêu thêm tình phụ... (Ru Em)
Em phụ tôi một thời bé dại...
Trả nợ một đời em đã phụ tôi... (Xin Trả Nợ Người)
Ông cũng viết về những duyên và nợ, những món nợ tình
chẳng bao giờ thanh toán nổi.
Trả nợ môt đời không hết tình đâu... (Xin Trả Nợ Người)
Ông muốn nói gì vậy(?)
Những tình khúc TCS như vẽ ra một thế giới riêng. “Thế
giới của riêng tôi là thế giới của mơ mộng hão huyền,”
ông nói, “vừa thực lại vừa không thực, tuy nhiên bao
giờ nó cũng ở cao hơn thực tại một chút...”(6) Thế giới
nào vậy? Thế giới ấy ở đâu? Thế giới không tên gọi, hay
gọi là “thế giới TCS” chăng? Cũng vì thế giới của ông
nửa mộng nửa thực như vậy nên tình yêu của ông đã có
lúc được xem như mặt hàng... giả: “Đã có không biết bao
nhiêu là tình yêu giả. Cái giả mà rất thật trong đời...
Người giả, người thật nhìn nhau lúc bấy giờ ngỡ ngàng
không biết nói thế nào đây...”(3)
Đôi lúc ông cũng thích dặm thêm ít “triết lý vụn” vào
những cái thực và giả ấy nữa: “Bờ bến của một cuộc tình
cũng không phải hẹp đâu. Có biết bao nhiêu kẻ đã bị dìm
chết giữa dòng để mãi mãi không đến được bờ bên kia. Kẻ
may mắn đến được bờ bên kia rồi, khi quay nhìn lại sẽ
thấy rất rõ, sẽ nhận thức được mọi thất vọng, khổ đau
đã qua đều là giả tạo, phù phiếm...”(3)
Tình yêu trong thế giới TCS và trong những tình khúc
của ông như thế không phải ảo giác là gì(?)... Nói cách
khác, tình yêu trong nhạc TCS như những đóa hồng kỳ ảo
mà người ta chỉ có thể đứng ngắm nhìn từ phía xa chứ
không lại gần được, và cũng vì vậy tình yêu ấy luôn
luôn quyến rũ.
Tuy vậy, có một tình yêu khác ông dành cho một người nữ
mà tôi tin rằng đấy phải là tình “thực”: tình yêu ông
dành cho người mẹ yêu quý của mình. Tình yêu ấy bộc lộ
rõ nét nhất trong ngày người phụ nữ ấy lìa xa ông: “Khi
cúi xuống hôn vầng trán lạnh lẽo của mẹ, tôi biết rằng
từ nay sự lạnh lẽo ấy sẽ dần dần tràn ngập trái tim
tôi. Mất mẹ là mất đi một tài sản lớn nhất trong toàn
bộ sự giàu có của một đời người... Khi một người tình
cho bạn một tình yêu thì trong trái ngọt đã có lẫn vị
đắng. Chỉ có tình yêu của mẹ là không vụ lợi. Chỉ có ở
người mẹ, bạn mới có thể tìm được lòng chung thủy tuyệt
đối. Ở trái tim người mẹ, chỉ có sự tràn đầy, không có
bớt đi hoặc thêm vào gì được nữa...”(2)
Tất cả những bà mẹ trên đời đều giống nhau. Tình yêu
của mẹ đối với những đứa con và tình yêu của đứa con
dành cho những người mẹ đều không phải là “tình yêu
giả”, và cũng không phải là ảo giác.

Sống và chết:
“Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” (Mưa Hồng), nghe
Ngọc Lan, cô ca sĩ thanh sắc vẹn toàn mà mệnh bạc, hát
những lời ấy mới thấy đời sống quả là ngắn ngủi, mới
thấy cần phải gấp rút “yêu nhau đi chiều hôm tối rồi”
chứ chẳng nên hờ hững với cuộc đời.
Tình yêu và cái chết hầu như sánh đôi nhau trong nhạc
TCS. Một ý niệm vẫn hay được TCS lập đi lập lại: mọi
vật đến rồi đi như một dòng chảy tự nhiên, liên tục,
không có cái đầu tiên và cũng không có cái sau cùng.
“Bài hát cuối cùng mãi mãi chỉ là một giấc mơ. Đã không
có bài hát cuối cùng thì cũng chẳng có bài hát đầu
tiên...”(4), khi người ta hỏi TCS “bài hát đầu tiên là
bài gì?”, ông trả lời đại khái như vậy. Câu trả lời
“huề vốn”, loanh quanh, lòng vòng theo lối nói cố hữu
của ông, để tránh không phải nói thật, cũng tựa như
cách người ta lẩn tránh “thật thà khai báo” tuổi tác
của mình.
Không có cái chết đầu tiên, đâu có cái chết sau cùng...
(Ngẫu Nhiên)
Câu này lại càng khó hiểu. Ai cũng biết là sống và chết
đều chỉ một lần, làm gì có chuyện “chết đi sống lại”
hay “chết lên chết xuống”, như những câu thơ Đynh Trầm
Ca thuở nào:
Hôm qua tôi bỗng chết hai lần
té ngửa trên bờ dĩ vãng xanh
Hôm nay bỗng chết thêm lần nữa
té sấp trên đường tương lai đen...
(Những Trận Chết)
Chết một lần cũng đủ... chết rồi! Không thể nói rằng
“cái chết này mới chỉ là cái chết đầu tiên”, hoặc “chưa
phải là cái chết... sau cùng”, hoặc “đâu đã chết mà chỉ
là ‘một hôm buồn lên núi nằm xuống’” (Tự Tình Khúc).
Nếu quả là ông chưa chết thật như cách nói ấy thì cái
chết của ông, theo như ta được biết, cũng chỉ là... ảo
giác (ít ra là đối với những người còn chưa muốn ông
chết). Ở đây không phải là chuyện “chết đi sống lại”,
thế nhưng cái ranh giới giữa sống và chết, giữa bến và
bờ ấy, nói như ông, đôi lúc nhạt nhòa, chẳng còn phân
biệt được đâu vào đâu.
“Sự mất mát và cái chết là nỗi ám ảnh lớn nhất đời
tôi”(3), ông đã có lần bộc lộ như vậy. “Nỗi ám ảnh” này
đi theo ông rất sớm, từ thuở “tóc xanh mấy mùa” cho đến
khi “chập chờn lau trắng trong tay”. Ông đã “sống từng
ngày, chết từng ngày”, đã chuẩn bị cẩn thận để đón chào
cái chết như kẻ đợi chết mỗi ngày. “Con người sinh ra
chỉ để chờ chết,” ông nói vậy, “một cuộc hẹn hò có khi
dài hạn, có khi ngắn hạn, nhưng tựu chung không có gì
vui vẻ.”(3) “Nỗi ám ảnh” ấy cũng theo ông đi vào những
ca khúc:
Còn sống một ngày là hẹn chết mai đây... (Buồn Từng
Phút Giây)
Một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua... (Phôi
Pha).
Nếu thật hôm nào tôi phải đi,
tôi phải đi, ôi bao nhiêu điều chưa nói cùng,
chắc lòng rất khó bình an... (Rơi Lệ Ru Người)
Ta vẫn nghe ông nói về những mệt mỏi của cuộc sống, của
kiếp người:
Ôi cát bụi mệt nhoài... (Cát Bụi)
Dù quá mệt kiếp người... (Để Gió Cuốn Đi)
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt... (Một Cõi Đi Về)
Mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn đời...
(Ngẫu Nhiên)
Sống có đôi chân đôi chân mệt nhoài một đời tới lui...
(Giọt Lệ Thiên Thu)
Biên giới giữa sống và chết, nói như ông, “chỉ như một
sợi tóc mỏng manh”(3):

Trong xuân thì thấy bóng trăm năm... (Gần Như Niềm
Tuyệt Vọng)
Sống chết mong manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi non...
(Giọt Lệ Thiên Thu)
Sau cùng thì ông đã bước qua cái lằn ranh mỏng manh như
sợi tóc ấy bằng những bước nhẹ tênh để cái chết lúc bấy
giờ rõ ràng là sự thực chứ không còn nằm mơ nằm mộng gì
nữa như là “một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời...”
(Bên Đời Hiu Quạnh).
Đối với không ít người, ông được xem như đã “chết” khá
lâu trước ngày cái chết của ông được chính thức loan
báo (cũng đại loại “TCS đã chết như thế nào?” vậy). Thế
nhưng ông chết đó mà sống đó, cũng như ông đã từng sống
đó mà chết đó, trước cái ngày ông chết thật. Một cách
nào đó ông đã chết, một cách nào đó ông vẫn sống, vẫn
như có mặt, lẩn khuất đâu đó trong “một cõi đi về” này.
Dường như không dễ gì loại bỏ hẳn được ông ra khỏi đời
sống “lô nhô loài người” này (chữ của TCS). Dù yêu dù
ghét tới mức nào, người ta vẫn không làm ông “chết” đi
được.
Sống hay chết, vắng mặt hay có mặt, cõi tạm hay cõi
thực..., ông cũng đã được người đời (những người cùng
tạm trú với ông ở “quán trọ trần gian” này) nhắc đến
tên tuổi, nói đi nói lại, nói tới nói lui về ông, cũng
như vẫn còn hát còn nghe nhạc của ông. Có một lúc người
ta “tưởng rằng đã quên” được ông, kỳ thực không phải dễ
như vậy.
Đôi khi (nói như ông), có vẻ như ông không thực sự hiện
hữu trong cõi nhân sinh đầy hệ lụy này, ông chỉ tạt
ngang qua cuộc đời này trong chốc lát như là “thoáng
gió thầm” vậy. Thành thử, đối với những gì ông làm,
những gì ông bỏ lại, dẫu có hay dở, tốt xấu, dẫu có
muốn khen hay chê, ngợi ca hay nguyền rủa, cũng chẳng
có nghĩa lý gì. Ông chẳng nghe, chẳng thiết chẳng màng,
cũng chẳng giải thích, giải bày chi cả.
“Một Cõi Đi Về”, một trong những sáng tác ông ưng ý
nhất, nói về “một lộ trình quen thuộc của cuộc sống mà
ai cũng phải trải qua”(4). Ý nghĩa của “đi, về” trong
bài hát được ông giải thích: “Có đi tất phải có về. Có
ai đi mãi không về đâu. Chắc chắn rồi sẽ có một lần về
vĩnh viễn, để mãi mãi không bao giờ còn ra đi nữa”(3).
Ông còn mượn lời Albert Camus trong “Lưu Đày và Quê
Nhà”: “Sống là một sự lưu đày, và chết là trở về”. Thế
nhưng “về” là về đâu? Chỉ nghe ông nói mơ mơ hồ hồ, nào
là “về chốn xa xăm cuối trời...” (Ở Trọ), hoặc “về chốn
nào mây phủ chiêm bao...” (Sóng Về Đâu).
Thật thú vị và đáng suy gẫm khi nghe điệu kèn saxo buồn
bã “Hát Cho Người Nằm Xuống” (bài hát viết cho ông
tướng không quân trong QL/VNCH) trỗi lên trong đám táng
của ông ở Việt nam. “Anh nằm xuống sau một lần đã đến
đây, đã vui chơi trong cuộc đời này...,” câu hát ấy
thực ra đâu có riêng cho một người nào. Bài hát ông
viết cho người, viết cho ông, và cho tất cả mọi người,
không chừa một ai. Có lẽ vì vậy, bài hát ấy sau cùng đã
được trả về cho ông. Và “Cát Bụi” nữa, không thể thiếu,
tất nhiên. Bài hát ông viết cho chính ông cách nay gần
bốn mươi năm, trở thành bài hát tiễn đưa trong ngày ông
rời bỏ cõi tạm này để lại hóa thân “về làm cát bụi”. Ít
nhất người ta cũng đã tử tế cho ông được nghe lại một
lần những “điệu kèn ai buốt trong tôi” (Chiếc Lá Thu
Phai) ấy, như là những gì thuộc về ông nay chính thức
trả lại cho ông.
Ông nghe một lần cuối, nhưng người ta vẫn còn tiếp tục
nghe mãi những “điệu kèn ai buốt” ấy, vẫn còn tiếp tục
hát mãi những bài hát nói về những biên giới thật là
mỏng manh giữa sống và chết, giữa bến và bờ, giữa thực
và ảo. Vẫn còn nghe còn hát, nghĩa là vẫn còn tiếp tục
đi tìm kiếm, mãi mãi, trên những biên giới mờ mịt ấy,
như ông đã từng, cho đến khi tìm thấy hoặc chẳng tìm
thấy gì cả.
“Sống làm thế nào cho tròn đầy sự có mặt và chết cho
ngập tràn cõi hư không. Phải đi đến tận cùng hai cõi
sống chết để làm tan biến đi những giấc mộng đời không
thực”(8). Trước giờ ta chỉ nghe “sống hết mình” chứ
chưa hề nghe... “chết hết mình”, vì vậy không rõ phải
chết cách nào để có thể “ngập tràn cõi hư không”(?).
Câu ấy có vẻ không dễ hiểu chút nào và có lẽ chỉ ứng
dụng với riêng ông. Không gì ngoài cái chết mới mong
giải phóng được ông ra khỏi những mối dây ràng buộc của
“những giấc mơ đời hư ảo”.
Điều gì khiến ông luôn bị ám ảnh bởi cái chết? Có phải
vì “yêu quá đời này”? “Tôi đã yêu cuộc đời hơn bao giờ
cả,” ông nói, “đời sống thì đẹp mà dài rộng quá, còn
đời người thì hạn hữu. Biết làm sao bây giờ...”(8)
Ông đã yêu cuộc sống biết chừng nào. Cuộc sống ấy đã
cho ông những ngày hạnh phúc. Đó là hạnh phúc được sống
bên cạnh những người mà ông thực lòng yêu mến, là hạnh
phúc mà ông đã tận hưởng từ “những tình cảm nhân loại
nhất của mọi người” (nói như ông). Những ngày ấy, những
hình bóng ấy, đã xa thật xa, đã mất tăm mất hút.
“Từng dòng nước mắt sẽ tiếc cho ngày vui, từng dòng
nuớc mắt sẽ nhớ thương cho đời...” (Còn Có Bao Ngày),
trong những lời nhạc ông viết về sau này ta vẫn nghe
những nỗi tiếc nhớ như vậy.
Ông đã yêu cuộc sống biết bao nhiêu. Trong những bài
ông viết cho lứa tuổi vừa lớn luôn luôn toát lên hơi
thở nồng nàn của cuộc sống. “Tuổi Đời Mênh Mông” chẳng
hạn, “ôm cuộc sống trong tay bên đời quá rộng..., tuổi
đời mênh mông quá búp non đầu cây...”, một trong số ít
những ca khúc có nhịp điệu vui tươi, như tình yêu phơi
phới, như mạch sống dâng tràn, như những bước chân chim
của cô bé mới lớn trên đồi cỏ rộng. “Mây và tóc em bay
trong chiều gió lộng..., em đứng bên trời tự do, yêu
đời thiết tha...” Nỗi “yêu đời thiết tha” ấy còn tìm
thấy trong những bài “Vì Tôi Cần Thấy Em Yêu Đời” (“tôi
xin làm hôm nay, cho đời em trẻ mãi...”), hay “Môi Hồng
Đào” (“tuổi mười sáu môi hôn lần đầu...”), hay “Đời Gọi
Em Biết Bao Lần”...
Vì “yêu quá đời này”, ông đâu dễ gì chịu chết. Ông sợ
một ngày nào không còn trông thấy được “bên trời còn
nắng, lá trời còn xanh, phố còn người đông...” (Hãy Cứ
Vui Như Mọi Ngày). Ông cũng sợ mọi người sẽ quên mình.
Ông vừa sợ chết lại vừa làm như coi thường cái chết,
thậm chí có lúc còn đùa nghịch, diễu cợt với cái chết
nữa. “Cái chết,” ông định nghĩa, “chẳng qua cũng chỉ là
một sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống”(6):
Không có đâu em này,
không có cái chết đầu tiên, đâu có cái chết sau cùng...
Hòn đá lăn trên đồi,
hòn đá rớt xuống cành mai, rụng cánh hoa mai vàng...
(Ngẫu Nhiên).
“Cánh mai vàng” là thân xác gầy yếu, mỏng manh của ông
Nếu tình yêu là “tình cờ” thì cái chết, với ông, cũng
chỉ là “ngẫu nhiên”.
Cái chết từ đâu đến? Tại sao sống và chết lại luôn luôn
kề cận? “Khi sự sống bất lực thì cái chết đến,”(6) ông
đã giải thích như vậy. Lời giải thích ấy quả có đúng
với trường hợp TCS.

4. Ảo giác con người TCS:
“Làm sao thấu từng nỗi đời riêng...” (Như Một Lời Chia
Tay), liệu câu hát ấy có thể hiểu như lời phân giải của
một người trước lúc chia tay với mọi người, với cuộc
đời mà ông đã từng sống, từng yêu thiết tha.
Thực tế, không dễ gì có thể hiểu hết, hiểu hoàn toàn
được một con người. Ngay đến những người thân, những
người có dịp gần gũi với TCS, khi nói hay viết về ông,
cũng ít nêu được những điểm khả dĩ nói lên tính cách cá
biệt rõ nét nơi con người ông (điều mọi người muốn biết
hơn là những câu chuyện phất phơ, đôi lúc thêm thắt,
chỉ để tỏ ra từng quen biết, từng là bạn là bè của
ông).
Lý do những người thân, những bè bạn của ông ít có
người “hiểu” ông là vì ông không có thói quen bộc lộ
hay chia sẻ. Những chuyện trò bên tách café, bên ly
rượu chắc không phải là những “cởi mở tâm tình” của
ông. Ông chẳng có hứng thú gì để giải bày tâm sự hoặc
kể lể về những nỗi riêng tư với bất cứ ai khác, ngoài
chính ông (“tự mình biết riêng mình và ta biết riêng
ta”, Ngẫu Nhiên). Vì vậy, nói rằng thực sự “hiểu” được
ông, hoặc đã cùng ông sớt chia tâm sự thì cũng chỉ
là... nói cho vui vậy. Một trong những thú tiêu khiển
của ông là mỗi ngày “ngồi trong phòng uống rượu và nhìn
nắng từ sáng đến chiều tối”(6). Ông tận hưởng cái thú
“ngồi yên lặng nhìn trời đất và suy tưởng về những điều
mình chưa tự giải đáp được cho chính bản thân
mình...”(6) Ông cũng cho biết “khoảng thời gian thích
nhất là được ngồi yên tĩnh một mình trước khi có một
người bạn đầu tiên xuất hiện để phá tan sự yên tĩnh
đó.”(6) Vì thế, những nỗi niềm thầm kín của ông trước
sau vẫn là “một điều dấu kín trong tim con người là
điều dấu kín thôi” (Một Lần Thoáng Có).
Rõ ràng ông không phải là dạng người có khuynh hướng dễ
bộc bạch những tình cảm và suy nghĩ riêng tư. Cách nói
chuyện cũng như cách dàn trải ý tưởng trên những trang
viết của ông đều không được rành mạch, rõ ràng. Trong
cách nói và trong cách giải thích của ông vẫn có một vẻ
gì không được thoải mái lắm, và cũng ít mang lại cảm
giác thoải mái, dễ chịu cho người tiếp xúc, chuyện trò
với ông. Những người ở gần ông dễ nhận ra điều này.
Nghe ông nói chuyện, người ta có cảm giác như ông còn
dấu quanh dấu quẩn điều gì, như cố ý phủ lên những lời
lẽ của ông chiếc khăn che đậy sự thật, khiến người nghe
nửa tin nửa ngờ rằng ông... “nói vậy mà không phải
vậy”. Khi cần phải trả lời hay giải thích điều gì, ông
thường nói quanh nói quất, dùng thủ pháp “lăng ba vi
bộ” để luồn lách, tránh né, không dễ gì chụp bắt được.
Vì vậy, những lời giải thích hay những câu trả lời ông
đưa ra thường ít làm người nghe thỏa mãn.
Khi người ta muốn biết tuổi thật của ông chẳng hạn (câu
hỏi lẽ ra không nên hỏi), ông nói: “Tôi thường không
nhớ năm sinh mà chỉ nhớ ngày sinh của mình (!?). Tôi
quan niệm tất cả mọi người sống cùng một thời đại đều
có chung một tuổi, đó là tuổi của thời đại”(6). Người
ta tò mò muốn biết quan hệ tình cảm giữa ông và ca sĩ
KL chẳng hạn (câu hỏi càng không nên hỏi), ông trả lời
đấy là “một thứ tình yêu không giống những tình yêu
khác...”, là “hai người bạn lãng đãng trong cuộc đời mà
rất thương yêu nhau...”(4). “Lãng đãng” như thế nào thì
ông không nói rõ. Người hỏi cũng không hỏi thêm vì thấy
ông trả lời có hơi... lãng đãng, nên chỉ còn biết suy
đoán. Chắc phải là thứ tình gì đấy ở giữa tình yêu và
tình bạn, hoặc cao hơn tình bạn, lớn hơn tình yêu, hoặc
một thứ tình cảm rất đặc biệt nhưng... không có tên
gọi. Một lối trả lời mà... không trả lời gì cả để ai
muốn hiểu sao thì hiểu, không hiểu cũng... không sao.
Ông lại không phải là người nói chuyện có duyên, dù vẫn
tỏ ra hóm hỉnh. Đôi lúc có vẻ như ngôn ngữ... không đủ
cho ông diễn đạt ý tưởng, và ông phải loay hoay tìm
chữ, lựa lời trong lúc ra những điệu bộ, cử chỉ kém tự
nhiên.
Ông thích bầu bạn, gần gũi với giới trẻ, thích được các
ca sĩ, các phụ nữ trẻ gọi bằng “anh”, như một cách tự
đánh lừa mình, tự tạo cho mình cái ảo giác còn trẻ
trung, còn sung sức, như một cố gắng để níu kéo lại
phần nào quãng tuổi xuân đã trôi qua mất, đã tàn úa như
“chiếc lá thu phai”, dù biết chỉ là sự cố gắng vô ích.
Lý do khác, có lẽ vì giới trẻ thường tỏ ra dễ chịu với
ông hơn là những người lớn tuổi, ít đặt ra cho ông
những câu hỏi có vấn đề, hoặc nếu có thì ông cũng dễ
dàng tránh né hơn.
Những tính cách vừa kể cũng thể hiện phần nào trong ca
từ TCS. Qua từng ý từng lời, ông cũng chỉ hé mở phần
nào cánh cửa thế giới nội tâm tiềm ẩn trong ông. Do
vậy, cũng dễ hiểu vì sao những lời nhạc của ông đôi lúc
có vẻ... khó hiểu.

Phản chiến hay không phản chiến:
Đến nay nhiều người vẫn đồng ý và không đồng ý về cái
danh hiệu đầu tiên người ta gán cho TCS: nhạc sĩ “phản
chiến”. Chuyện người ta gọi ông là một “Bob Dylan của
Việt nam” cũng chỉ là chuyện “một người nói (nữ ca sĩ
Joan Baez), nhiều người nói theo”. Thực tế, có những
điểm khác biệt không thể so sánh được, chưa nói là phản
chiến Mỹ không giống như phản chiến Việt nam.
TCS, ông chỉ là người viết ca khúc (songwriter), trước
hết cho chính ông, tiếp đến là những ca khúc về thân
phận máu đỏ da vàng chung chung, phản kháng chiến tranh
chung chung, và những bản tình ca được nhiều người yêu
thích vì lạ và mới, và hay nữa tất nhiên. Ông cũng có
thời kỳ có vẻ bị lôi kéo, móc nối, nhưng chưa “giác ngộ
cách mạng” hẳn, và có những biểu hiện ấu trĩ về chính
trị. Đến khi tỉnh táo, hiểu ra thì... “tiến thoái lưỡng
nan” (như tên một ca khúc của ông), khiến đi cũng dở mà
ở cũng không xong, cứ luẩn quẩn lòng vòng, đi tới đi
lui, không tìm ra lối thoát, đúng như là câu hát thể
hiện bức “chân dung tự họa”: “đường chạy vòng quanh,
một vòng tiều tụy...” (Một Cõi Đi Về). Bi kịch TCS là
chỗ đó. Một người từng thú nhận “như đá ngây ngô” như
ông, rõ ràng là không thích ứng với những hoạt động
chính trị và người làm chính trị cũng chẳng dùng đến
ông, hoặc nhiều lắm chỉ móc ngoặc nhằm lợi dụng trong
một giai đoạn nhất thời.
Nếu “phản chiến” được hiểu là lòng mong muốn sớm chấm
dứt cuộc chiến kéo dài triền miên, là khát vọng hòa
bình, là ước mơ thống nhất đất nước, để máu xương ngừng
rơi, để các bên ngừng tay chém giết và con người ngồi
gần lại với nhau, thì mỗi người dân Việt đều “phản
chiến” chứ đâu có riêng gì TCS. Phiền một nỗi là TCS,
ông không ngừng lại ở cái nghĩa “phản chiến” tự phát từ
tâm tư tình cảm ấy, ông còn muốn dấn thêm một bước nữa,
còn muốn kêu gọi mọi người “dậy mà đi” (không rõ đi
đâu), hô hào tuổi trẻ “lên đường” (không biết đường
nào). Thử nghe lại “Chính Chúng Ta Phải Nói”:
Chính chúng ta phải nói hòa bình... (hòa bình kiểu nào,
không nghe ông nói!)
Chính chúng ta phải có mọi quyền (ý nói “quyền dân tộc
tự quyết” đây), đứng lên đòi thống nhất quê hương...
(thống nhất kiểu nào cũng không nghe ông nói!)
Hoặc “Gia Tài Của Mẹ”, khá phổ biến một thời:
Một trăm năm đô hộ giặc Tây... (một đứa bé lên mười ở
Việt nam cũng biết là sai)
Hai mươi năm nội chiến từng ngày... (cái tội xuyên tạc
ý nghĩa cuộc kháng chiến thần thánh... “chống Mỹ cứu
nước” của nhân dân ta, có nhẹ tay lắm cũng dăm bảy năm
“học tập cải tạo” để thông suốt và nắm vững chính sách
đường lối cách mạng).
Nói nhạc TCS làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân
dân miền Nam, làm rã ngũ, làm... mất nước là đề cao vai
trò và tác động âm nhạc của ông quá đáng. Nhạc TCS thực
sự chưa có được khả năng ấy vì không đủ trọng lượng,
không đủ sức để lôi kéo, vận động quần chúng. Lý do dễ
hiểu là “phản chiến” của TCS còn “chung chung” quá, lập
lờ quá, thiếu lập trường chính trị mạnh mẽ, dứt khoát,
rõ ràng. Chưa nói đến trình độ lý luận, kiến thức chính
trị của ông khá ấu trĩ và hạn hẹp, lắm lúc tỏ ra ngây
thơ và ảo tưởng. Ông đi theo cái mà ông... không biết
rõ là cái gì(!). Thật khó mà thuyết phục người khác
những điều mà chính ta còn chưa hiểu rõ lắm, nói chi
đến việc truyền “lửa” đấu tranh, cách mạng.
Một người viết nhạc gọi là “phản chiến chung chung” như
vậy làm sao có đủ sức đủ tài để lôi kéo kẻ khác về phe
mình, làm sao có đủ ma lực của “tiếng sáo Trương Lương”
để làm lính tráng phải quăng súng ống, quan quân phải
rã ngũ! Những bài bản cỡ “anh trở về bại tướng cụt
chân...” (“Kỷ Vật Cho Em”, Phạm Duy, thơ Linh Phương),
hoặc “ngày mai đi nhận xác chồng..., anh lên lon giữa
hai hàng nến chong...” (“Tưởng Như Còn Người Yêu”, thơ
Lê Thị Y’) còn chưa ăn thua gì thì đàn địch hát xướng
khơi khơi như ông dễ gì “mất nước” nổi!). Làm nhạc tình
yêu chung chung, thân phận chung chung thì được, chứ
không thể phản chiến chung chung kiểu “hỡi ba miền vùng
lên cách mạng” (Huế-Saigon-Hà nội) hoặc “quyết chối từ
chém giết anh em” (Chính Chúng Ta Phải Nói). Tất nhiên
chẳng phe nào muốn nghe những lời “phản chiến” kiểu đó,
và ông được mời ra chỗ khác chơi là vậy.

Những bài hát, những số phận:
Nhiều người tưởng rằng TCS là nhạc sĩ ở miền Nam Việt
nam được “cách mạng” ưu đãi sau năm bảy mươi lăm. Thực
tế, đâu biết rằng ông đã từng có những năm sống lây
lất, những năm “nín thở qua sông”, có khi chết dấp ở
một xó rừng nào đó cũng chẳng được ai nhắc nhở, đoái
hoài. Trong những năm cả nước điêu đứng, mỗi người phải
tự “mưu sinh thoát hiểm” thì TCS, ông ở đâu? Ông như
mất dấu, như một kẻ không tên tuổi, “như cánh chim chìm
xuống”.
Trong những năm ấy, chẳng ai còn bụng dạ nào, còn tâm
trí nào để mà thưởng thức nhạc TCS, thậm chí chẳng ai
dám nghe dám hát nhạc TCS. Phải mất nhiều năm sau đó,
phải đợi cho đến khi ông gắng gượng đứng dậy được, gắng
gượng “sáng tác” được ít bài bản đại loại “Em Ở Nông
Trường Em Ra Biên Giới”, “Huyền Thoại Mẹ”... (những bài
này tuyệt nhiên không thấy trình diễn ở hải ngoại), mọi
người mới nhớ ra ông, và ông mới như từ vũng lầy nào
lóp ngóp lội được lên bờ, như từ bóng tối nào của quá
khứ bước ra. Từ đó ông mới tìm lại được chút tên tuổi
tưởng đã đánh rớt đâu mất từ sau cơn bão của lịch sử...
Ngồi nhớ lại những năm nghiệt ngã ấy, ông viết: “Tôi đi
trồng và gặt lúa. Tôi đi trồng khoai, sắn ở Cồn Tiên,
trên những bãi đất chằng chịt mìn có thể nổ bất cứ lúc
nào ở cửa ngõ Trường Sơn. Tôi đi chợ, nấu ăn. Tôi chở
bột mì rải trắng cả một con đường như ngày xưa Mỵ Châu
làm dấu cho Trọng Thủy. Tôi xếp hàng mua từng điếu
thuốc hạng tồi. Tôi lãnh hàng tháng một lóng tay thịt
mỡ không đủ cho một con mèo ăn. Và cứ thế cứ thế, nhiều
năm, mù mịt...”(8) (Không thể nào không liên tưởng đến
câu chuyện tương tự được nhiều người biết về nhạc sĩ
Văn Cao, người cũng từng có quá trình xếp hàng cả buổi,
chầu chực đến phiên mình để mua cho bằng được lát thịt
mỏng dính, và còn bị bà hàng thịt nạt nộ vì không chịu
lên tiếng khi nghe gọi “văn cao, văn thấp”. Có lẽ đầu
óc ông nhạc sĩ còn đang bay bổng đến những “Thiên
Thai”, “Suối Mơ”... mà quên rằng đây vẫn còn là cõi thế
chứ nào có phải bồng lai tiên cảnh!...).
Đối với giới yêu nhạc TCS ở miền Nam trước đây, tiếc
một điều là, kỷ niệm sau cùng còn giữ được về TCS trong
những ngày biến động của lịch sử lại không phải là kỷ
niệm đẹp. Nói rõ hơn, lần trình diễn cuối cùng của ông
vào một ngày cuối tháng Tư đáng ghi nhớ ấy là lần trình
diễn... ít được tán thưởng nhất, và không thể xem là
màn trình diễn đẹp mắt hay thành công được. Không những
thế, nó còn khiến cả những người từng yêu mến, từng
dành cho ông nhiều cảm tình nhất cũng phải ít nhiều
thay đổi cái nhìn về ông, và dẫu có muốn bênh vực hay
đỡ đòn cho ông cũng không dễ gì. Thật khó mà biện minh
là oan hay ưng, là tự nguyện hay bị ép uổng, hay là
“nạn nhân” của một vở kịch dàn dựng sao đó... Có thể là
vào lúc ấy, ông đã tưởng rằng “giờ đã điểm”. Đúng là
“giờ đã điểm” thật, lịch sử đã sang trang thật, nhưng
không “điểm” theo cái nghĩa hồ hởi phấn khởi như ông
tưởng.
“Nối Vòng Tay Lớn” (trong tuyển tập nhạc “Kinh Việt
Nam”, 1968), ca khúc thể hiện khát vọng hòa bình, cổ
xúy việc thống nhất đất nước, thống nhất lòng người,
từng có thời kỳ khá dài là một trong những bài hát cộng
đồng khá phổ biến trên môi tuổi trẻ, sinh viên Việt
nam, trong những trại hè, trại họp bạn, trong những cao
trào lên đường xuống đường, trong những “đêm không
ngủ”, những đêm “hát cho dân tôi nghe”. Bài hát ấy, hơn
ba mươi năm về trước, ở trong nước, mọi người đã vừa
hát vừa vỗ tay rất nhịp nhàng, rất khí thế, rất phấn
khởi; thế mà giờ đây, ở ngoài nước, cách chọc giận
người khác là đề nghị... hát lại bài hát ấy. Bài hát
đành mang hai số phận, thật trớ trêu và rủi ro.
Bài hát, tự nó chẳng có lỗi gì cả. “Ta đi vòng tay lớn
mãi để nối sơn hà...”, và “bàn tay ta nắm nối tròn một
vòng Việt Nam...”, đấy không phải là nỗi ước mơ, là
giấc mộng của tuổi trẻ ngày ấy hay sao. Giấc mộng ấy đã
không thành. Đâu hết rồi, những con người từng sôi nổi,
từng say sưa hát bài hát ấy. Tất cả bỗng nhiên biến
mất, không ai chịu đến với TCS, không ai chịu đứng xếp
hàng quanh ông để mà “nối vòng tay lớn” như đã từng.
Ông đứng chơ vơ một mình giữa vòng tròn tưởng tượng,
cái vòng tròn ảo tưởng thật rộng lớn mà ông đã không vẽ
ra được. “Hãy ở lại! Hãy cùng nhau nối vòng tay
lớn...,” mặc cho ông ra sức kêu gào một cách tuyệt
vọng, mọi người vẫn ùn ùn bỏ chạy, chẳng ai nghe ông
nói, nghe ông hát. Tội nghiệp, tiếng kêu gào, tiếng
hát, tiếng đàn của ông bị nhận chìm trong làn sóng,
trong cơn bão hoảng loạn. “Giọng hát thất thanh, với
tiếng đệm đàn guitare rất là sai dây...,”(1) nhạc sĩ
Phạm Duy đã nhớ lại và ghi lại trong hồi ký của ông.
“Anh em ta về gặp nhau mừng như bão cát, quay cuồng
trời rộng...”, chẳng ai hiểu ông hát những gì. Mọi
người còn đang nhốn nháo, hoảng hốt, lo tìm một con
đường sống. “Quay cuồng trời rộng...”, quả đúng là trời
đất quay cuồng thật, và lịch sử cũng chao nghiêng...
Bài hát gắn liền với tên tuổi ông, bài hát kêu gọi xóa
bỏ hận thù, nối lại tình người, các bên đều là “anh
em”, bài hát ấy sau cùng đã không được đáp nhận, cũng
không khác chi một loạt những ca khúc “phản chiến” của
ông trước đó đã chẳng được bên nào đáp nhận, nhiều lắm
cũng chỉ được xếp chung với những bài du ca một thời
của sinh viên, học sinh. Bài hát, thật rủi ro, vì đã
cất lên không đúng nơi đúng lúc, không hợp tình hợp
cảnh. Bài hát, là cái “hố” lớn nhất trong đời ông, cũng
là do nhữngỉ “ngây ngô” và ấu trĩ về chính trị. Cái
“hố” ấy, thật nghiệt ngã, chỉ đến có một lần. “Một lần
là trăm năm”, như một câu hát của ông. Tiếc một điều là
ngày trước, khi “cuộc chiến chưa tàn”, nếu ông đã tiên
cảm được chuyện “đêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa
vui...” (Sao Mắt Mẹ Chưa Vui), thì đúng lý ra ông cũng
phải “thấy” được rằng, chuyện “nối vòng tay lớn” sau
“ngày tàn chiến cuộc” là chuyện làm sao mà có nổi!
Thực tế, mãi đến bây giờ, người ta cũng chỉ phê phán
người hát chứ không phê phán bài hát. Có vẻ như người
ta không muốn nhắc nhở, đả động gì tới bài hát ấy, làm
như không biết tới nó, làm như nó chưa hề ra đời vậy,
đến nỗi nó cũng vắng mặt như một dấu lặng, không có một
lời giải thích trong tuyển tập nhạc “Những Bài Ca Không
Năm Tháng” (gồm những bài nhạc tiêu biểu cho từng thời
kỳ sáng tác, do chính người nhạc sĩ tuyển chọn, để lại
cho đời). Kể ra thì cũng khó mà lạnh lùng ngoảnh mặt
quay lưng với những gì mà ta đã từng có một thời yêu
thích.
“Nối Vòng Tay Lớn” trở thành nỗi chua xót, ngậm ngùi,
trở thành bài hát bẽ bàng cho ông và cho cả những người
từng có một thời sôi nổi hát, sôi nổi sống trong những
năm tháng khó quên ấy. Bẽ bàng như cử chỉ chìa tay
trước mặt người nào để làm thân mà “người ta” lạnh lùng
ngoảnh mặt quay lưng, không thèm bắt. Bẽ bàng đến độ
người ta đã muốn quên đi là đã từng có một bài hát như
thế. Người nhạc sĩ sáng tác bài hát ấy, ông đã làm cho
bài hát được yêu thích một thời và quên lãng một thời.
“Nối vòng tay lớn” là một giấc mơ thật đẹp. Chỉ tiếc
rằng mãi mãi bài hát vẫn chỉ là một giấc mơ.
“Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên” cũng là một trường hợp lạ.
Bài nhạc nội dung có vẻ “vòng tay chờ đợi” này có giai
điệu và lời lẽ thật đẹp, thật thiết tha đánh vào tâm tư
tình cảm người Việt tha hương, gây “dị ứng” không những
đối với khối người Việt ở hải ngoại mà cả với nhà nước
Việt nam vì những cái “vẫn” nằm rải rác trong những câu
hát: “em ra đi nơi này vẫn thế”,... “vẫn có em trong
tim của mẹ”,... “vườn xưa vẫn có tiếng me ru, có tiếng
em thơ”,... “lá vẫn xanh trên con đường nhỏ”,... “có
hai mùa vẫn đi về”,... “thành phố vẫn có những giấc mơ,
vẫn sống thiết tha, vẫn lấp lánh hoa trên đường đi”...
(nhưng nếu bỏ những chữ “vẫn” ấy đi thì bài hát...
không còn là bài hát).
Người Việt hải ngoại “dị ứng” thì cũng dễ hiểu, nhưng
sao lại cũng “dị ứng” cả với những người cầm quyền ở
trong nước? “Em ra đi nơi này vẫn thế,” cả hai phía đều
quyết liệt phủ nhận. “‘Vẫn thế’ thế đ. nào được,” người
ở ngoài nước văng tục, “một đất nước tang thương đến
như vậy!” Giới lãnh đạo trong nước cũng đời nào chịu:
làm sao có chuyện “vẫn thế” được, đã “giải phóng”, đã
“cách mạng” mấy niên rồi, bắt buộc phải đổi khác chứ!
“Vẫn thế” nghĩa là vẫn còn tàn dư chế độỉ cũ, là “tụt
hậu”, là đi ngược lại xu thế thời đại, là kìm hãm những
bước nhảy vọt (tội ấy có nhẹ tay lắm cũng phải gò lưng
viết “bài kiểm điểm”). Rốt cuộc bài nhạc nghe không
thuận tai ấy đành mang số phận không may, trở thành vô
duyên, lạc lõng vì chẳng được bên nào đón nhận hay dành
cho chút cảm tình...
Cái rủi ro khiến cho TCS là một con người--như những
bài hát của ông--mang đến hai số phận. Có lẽ sau cùng,
chỉ còn lại những tình khúc TCS, chỉ còn lại những bản
tình ca không biên giới, không sắc màu của ông là còn ở
lại được trong lòng người về lâu về dài. Tình ca, sau
cùng là tiếng nói “người” nhất, là tiếng nói duy nhất
trong âm nhạc không gieo rắc những nghi kỵ, những tị
hiềm.

Cây sậy TCS:
Nếu những người từng yêu mến TCS đã phải ít nhiều thất
vọng về ông sau này thì lỗi ấy không phải do ông mà do
người ta đã đánh giá ông sai lệch, đã kỳ vọng nơi ông
nhiều quá. Ông không có khả năng đáp ứng những gì người
ta trông đợi nơi ông, thậm chí lắm lúc ông còn đi ngược
lại nữa là khác.
Có một câu nói quen thuộc của Pascal mà TCS vẫn hay
trưng dẫn trong những bài viết ngắn của ông, “l’homme
est un roseau, mais un roseau pensant”, mỗi khi ông
triết lý vặt về cuộc đời, về con người, về thế thái
nhân tình... Trong một nghĩa nào đó, câu này có thể
dùng được để mô tả tính cách con người ông.
TCS, ông chỉ là một “cây sậy”, hơn thế nữa, là một cây
sậy yếu hèn (cho dù có là “cây sậy biết suy nghĩ” tới
đâu). Trong lớp vỏ của một cây sậy, của một thể chất
yếu đuối, là một bản chất yếu đuối, đôi lúc bộc lộ thật
rõ nét.
Là cây sậy, ông khó mà đứng thẳng trước những trận gió
ào ạt, những trận cuồng phong. Ông phải cúi rạp xuống.
Là cây sậy, ông cũng tham sống sợ chết, cũng thích ăn
ngon mặc đẹp, cũng run sợ trước bạo lực, cũng lo âu
trước những nỗi bất an, những mối đe dọa rình rập...
“Tôi sợ...,” ông nói, từ chối lời đề nghị của những
người bạn muốn đưa ông sang Mỹ để điều trị căn bệnh khó
chữa.
Ít có ai ngờ rằng, ẩn dấu bên trong con người từng viết
những lời ca đầy khí thế cách mạng, rực lửa đấu tranh
ấy lại là một trái tim yếu mềm, một tâm hồn mang thương
tích, làm sao mà có thể “thoát yếu hèn, dựng thân cao
lớn” nổi, như là câu hát trong một ca khúc “phản chiến”
của ông (Chính Chúng Ta Phải Nói).
Một số ca khúc của ông, chưa nói đến nội dung, có khi
chỉ cần nghe qua cái tựa là người ta có thể biết được
tác giả là ai (Ru Ta Ngậm Ngùi, Cỏ Xót Xa Đưa, Bên Đời
Hiu Quạnh, Nghe Những Tàn Phai, Im Lặng Thở Dài, Như
Chim Ưu Phiền, Buồn Từng Phút Giây, Lặng Lẽ Nơi
Này...). Trong những sáng tác về sau này, nhất là vào
những năm cuối đời, ta nghe thấy ông gửi gấm những nỗi
niềm mà ông gọi là “nỗi lòng của kẻ tuyệt vọng”. Ở
những ca khúc này (Rơi Lệ Ru Người, Ru Đời Đã Mất, Ru
Đời Đi Nhé, Giọt Lệ Thiên Thu, Tôi Ơi Đừng Tuyệt
Vọng...), người ta nghe thấy có nước mắt, có lệ rơi
trong những câu hát...
Rơi lệ ru người từ đây... (Rơi Lệ Ru Người)
Tôi là ai mà còn khi dấu lệ... (Tôi Ơi, Đừng Tuyệt
Vọng)
Từng dòng nước mắt sẽ tiếc cho ngày vui... (Còn Có Bao
Ngày)
Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ... (Bên Đời Hiu
Quạnh)
Ông tự ví mình như con chim buồn, chim đau, chim bệnh,
chim ưu phiền, chim vô vọng, thôi thì đủ loài chim
chóc, chim nào nghe cũng sầu thảm, đủ thấy tay nhạc sĩ
này quả là yếu đuối và cô đơn biết chừng nào:
Tôi như con chim bệnh
thiếu hạnh phúc trần gian
có những tháng mùa đông
ngồi khóc rất âm thầm
. . .
trong tim tôi có lần
một mùa ôi rất lạnh
(Như Chim Ưu Phiền)
Ông nói về nỗi tuyệt vọng, ông muốn “tôi tìm lại tôi”
(Tiến Thoái Lưỡng Nan), tìm lại chính mình. Tôi là ai,
tôi là ai??? Câu hỏi như lời khẩn khoản, như niềm trăn
trở, như nỗi khát khao muốn biết, muốn được trả lời. Là
ai, là ai, là ai??? Những câu hỏi liên tiếp ném vào hư
vô, lặp đi lặp lại nhiều lần, chỉ có những tiếng vọng
dội lại từ những vách đá lạnh lẽo, những bức tường câm
lặng, thay cho câu trả lời...
Như đá ngây ngô, ông có lần tự ví mình như vậy. Thế
nhưng, thay vì chịu nằm yên một chỗ, ông lại cứ muốn
làm hòn đá... lăn (như là “đá lăn, vết lăn trầm”), thế
mới rầy rà. Thực ra, ông không cần thiết phải làm những
gì người khác không buộc, không yêu cầu ông làm (trừ
phi ông… cũng muốn làm). Ông đã có những bài hát rất
hay về các bà mẹ (“Lời Mẹ Ru”, “Ca Dao Mẹ”... chẳng
hạn), ông không cần phải viết thêm “Huyền Thoại Mẹ”.
Ông đã có những câu hát thật dễ thương về các cô gái
như là “em qua công viên mắt em ngây tròn...” (Nắng
Thủy Tinh), ông không cần phải viết thêm “Em Ở Nông
Trường, Em Ra Biên Giới”. Ông cũng không cần phải viết
“Khăn Quàng Thắp Sáng Bình Minh” khi mà ông có thể viết
những bài hát thiếu nhi hay hơn thế nhiều (“Em Là Hoa
Hồng Nhỏ” chẳng hạn), và chẳng ai có ý kiến gì được.
Ông cũng không cần phải viết “Ngọn Lửa Mát-xcơ-va”, ở
vào một thời kỳ mà ai cũng biết rằng ngọn lửa ấy sắp
sửa... lụi tàn. Ông cũng không cần, không cần... Tuy
nhiên, như kẻ phóng lao phải theo lao và như “hòn đá
lăn trên đồi” (Ngẫu Nhiên), ông cứ phải lăn thôi, lăn
mãi lăn mãi đến tuột dốc... Ông không ngừng lại được
nữa.
Cái yếu đuối và thiếu suy xét ở con người TCS còn biểu
lộ ở những mặt khác. Ông thích “triết lý”, thích đào
xới, nghiền ngẫm những mảng triết học từ đông sang tây,
mặc dầu vẫn biết cái món trang sức ấy chỉ là giả hiệu,
chỉ là “những luận điệu phỉnh phờ”. Ông cũng thích viện
dẫn những triết lý tiềm ẩn trong tôn giáo, mặc dầu vẫn
cho rằng “những đấng tối cao có lẽ đã ngủ quên cùng với
chân lý”. Ông như người tự đánh lừa mình, tự nhận chìm
mình trong ảo giác bềnh bồng tìm được sự cứu rỗi và cõi
an bình trong thế giới triết học và tôn giáo ấy. Không
lấy làm lạ ông vẫn hay nói đến những an nhiên, những vô
vi..., trong lúc cái “tâm” ông lại ít khi nào được yên
tĩnh như mặt nước phẳng lặng mà cứ mãi là những “biển
sóng, biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân
người...” (Sóng Về Đâu).
“Tôi đã mỏi dần với lòng tin,” sau cùng ông đã phải
thốt lên như vậy, “chỉ còn lại niềm tin sau cùng: tin
vào niềm tuyệt vọng, có nghĩa là tin vào chính
mình”(8). Tôi cho rằng ông chỉ nói là nói vậy, ngay cả
“tin vào niềm tuyệt vọng” hoặc “tin vào chính mình”,
cũng chưa chắc ông đã chịu tin. Nếu quả là “tin vào
chính mình” thật thì ông đã không đến nỗi phải... tuyệt
vọng. “Tin vào niềm tuyệt vọng” chỉ là một cách nói.
Chẳng qua ông hiểu rằng ông phải đương đầu, phải trực
diện với nỗi tuyệt vọng ấy từng ngày từng giờ, và ông
chẳng có cách nào khác hơn là phải thỏa hiệp, phải gắng
gượng mà sống chung hòa bình với nỗi tuyệt vọng ấy để
tìm cái vui, để thấy “tuyệt vọng cũng đẹp như một bông
hoa”(8) (lại một cách nói khác của ông).
“Có những ngày tuyệt vọng đến cùng cực, tôi và cuộc đời
đã tha thứ cho nhau...”(8), ông nói, vẻ ngậm ngùi. Tôi
thực tình không rõ cuộc đời đã làm gì, đã có lỗi gì với
ông để ông phải... tha thứ(?). Trong những lời lẽ đầy
vẻ “từ tâm” ấy, ta vẫn nghe có chút gì không thật, lẫn
chút gì cay đắng.
Ông cứ phải lặp đi lặp lại, phải “triết lý” mãi về
những “biên giới thù nghịch”, những hờn oán, những thứ
tha và tha thứ, những quên lãng và lãng quên..., đại
khái “trong lòng tôi không có giây phút nào nuôi lòng
oán hận đối với cuộc đời, dù có đôi khi nhân gian bạc
đãi mình và con người phụ rẫy mình”(3), hoặc “ta biết
tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta
những điều lớn hơn”(3), hoặc “mọi người đều cảm thấy
mình thực sự hạnh phúc khi biết xóa đi cái biên giới
thù nghịch trong lòng mình”(8)... vân vân và vân vân.
Không chừng đấy cũng lại là những “ám ảnh” thường trực
nào khác nữa ngoài nỗi ám ảnh về cái chết của ông. Ám
ảnh về “quên” chẳng hạn, thì thật... khó mà quên. Ông
đã tập quên, tập tha thứ, để mong được quên, được tha
thứ. Thế nhưng ông không dễ gì quên, không dễ gì tha
thứ hay thôi hết oán hận chừng nào ông vẫn chưa thoát
ra được những “ám ảnh” ấy.
Với những lời ngợi khen, ngưỡng mộ, ông đáp lại với vẻ
khiêm tốn: “Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành
người viết ca khúc nổi tiếng, nhưng đời đã tặng cho tôi
món quà ấy thì tôi không thể không nhận.”(3) Với những
lời chê trách, nguyền rủa, ông tỏ ra bất cần: “Tôi
không quan tâm lắm đến dư luận, nhất là thứ dư luận
không mang tính cách xây dựng. Vấn đề của người sáng
tác là tập trung vào việc sáng tạo chứ không phải ngồi
chờ nghe dư luận nói gì về mình... Phản ứng của tôi là
im lặng và lãng quên những lời dị nghị. Người ta không
thể đánh mãi vào khoảng không được.”(3) Quả là phản ứng
của con người tự chế và khôn ngoan. Những người oán
ghét ông đã chỉ mong ông lên tiếng, nhưng ông đã làm họ
thất vọng.
Dẫu sao, TCS, ông không cần phải đấm ngực vò đầu “đời
tôi ngốc dại” hay “im lặng thở dài” mãi. Nếu ông có
ngốc dại hay yếu hèn thật thì cũng chẳng phải mình ông.
Ngay đến cái tội danh “làm mất nước” kia, ông cũng
không dành lấy độc quyền được nữa. Nhiều năm sau cuộc
đổi đời, ngày càng có thêm nhiều người, vì chút lòng tự
trọng, đã thành khẩn tự thú “tôi làm tôi mất nước”, chứ
không còn muốn “bán cái” cho ai nữa...
Con người TCS, qua cánh cửa hé mà tôi nhìn thấy được,
nghĩa là cái phần mà ông cố ý cho thấy, có vẻ như ông
muốn thể hiện hai điều: một mặt, ông như muốn tự phơi
bày mình như con người phàm tục, yêu ghét, hay dở, tốt
xấu lẫn lộn (“tôi là ai mà còn trần gian thế”); mặt
khác, ông cho thấy nơi ông tấm lòng nhân ái bao la, yêu
đồng loại, yêu đất nước yêu quê hương, như muốn ôm lấy
hết cuộc sống trong tay vậy (“tôi là ai mà yêu quá đời
này”). Tôi không chắc lắm cách thể hiện nào thực sự phù
hợp với ông, phản ánh tính cách con người ông hơn, có
điều thể hiện cùng một lúc hai điều ấy không phải là dễ
dàng.
Dù cách nào đi nữa, vào những năm tháng cuối đời, ta
thấy ông như ngọn đèn lụn bấc, như đã mất hết khí lực,
như đã vắt kiệt đời mình. Ông chỉ còn là cây sậy khô
héo.

5. Ảo giác được và mất

Ngồi bên dòng sông nhớ đời mình
một trăm năm sau mãi ngủ yên...
Câu hát ấy ở trong bài “Sẽ Còn Ai?”. Một trăm năm sau
sẽ còn ai? TCS, mãi đến khi về ngồi lại bên cầu, nhìn
dòng sông đời mình chảy xiết, ông mới “tôi chợt nhìn ra
tôi” để có những lời tự bạch: “Tôi phiêu lạc bao năm
rồi trên một dòng đời không bờ bến. Có khi tưởng bờ là
bến. Có khi tưởng bến là bờ. Cái bờ ru lời hiu quạnh
lau lách. Cái bến ru chập chờn một đốm lửa chiều. Bến ở
đâu? Và bờ ở đâu?...”(8)
Ai sẽ trả lời cho ông câu hỏi ấy, trả lời cho con người
đã tiêu pha “hết một đời lênh đênh” để ngụp lặn tìm
kiếm, để bơi mãi bơi hoài, cho đến cuối đời vẫn không
nhìn thấy đâu là bến là bờ, vẫn còn mơ mơ màng màng về
một thứ bờ bờ bến bến mịt mùng, đến chẳng còn nhận ra
mình là ai, chẳng còn biết mình đang đứng nơi đâu, bên
này hay phía bên kia bờ. Bên này trống không, bên kia
có gì? Những bến bờ mênh mông, bát ngát, chập chùng...
Những bến bờ nào ông đã đi qua mà không ghé lại, những
giấc mơ nào ông đành “để gió cuốn đi”, sau những miệt
mài đeo đuổi và kiếm tìm, sau những đắng cay thất vọng
và tuyệt vọng.
Có một câu hát trong bài tình ca TCS ngày xưa, “em đi
trong sương mù, gọi cây lá vào mùa...”, mỗi lần nghe
lại, tôi cứ ngỡ ông viết cho chính ông chứ không phải
cho ai khác. Chính là ông tự ru ông ngủ chứ đâu phải
“Tôi Ru Em Ngủ” như tên bài hát ấy. Cũng đâu phải chỉ
có một mình ông lững thững “đi trong sương mù” dày đặc,
ông lại còn kéo theo bao nhiêu người khác cùng đi với
ông vào sâu hun hút trong vùng sương mù ảo giác ấy. Ông
cũng từng vẽ ra những mặt trời lớn, mặt trời nhỏ trong
những lời nhạc của mình, và cũng đã sản sinh ra ở quanh
ông--những người hát và nghe ông--không ít những “mặt
trời ảo giác”.
Những năm về sau này, khi ngồi tính sổ cuộc đời, TCS đã
có lúc tự gán cho mình cái danh hiệu ”một công dân
ngoại hạng” với một chút tự hào: “Đôi khi tôi tự hỏi,
có phải tôi là kẻ hạnh phúc hơn nhiều người? Không phải
bất kỳ ai cũng có thể sống trong một đời dưới nhiều
hình thái xã hội khác nhau. Tôi là ai vậy? Tôi, hình
như, đã có lúc mang thân phận chiến tranh, rồi hòa
bình, rồi tư bản và rồi cộng sản. Cái lý lịch đa mang
này cũng đủ để tôi tự thấy mình là một loại công dân
ngoại hạng.”(8)
Dù thế nào ông cũng đã sống theo cách thế mà ông đã lựa
chọn. “Có mấy ai sống được như tôi đâu”(8), câu ấy ta
hiểu chỉ là cách nói vui để tự an ủi; tuy nhiên, hiểu
theo nghĩa nào đó, quả có đúng chứ không sai. Dù thế
nào ông cũng đã sống trọn, sống “tròn đầy sự có mặt”,
nói như ông, trong “cõi nhân sinh bề bộn những khổ đau
và hoan lạc này”. Ông đã từng được yêu được ghét, được
ngợi ca được nguyền rủa. Ông đã có đủ mọi thứ trên đời
này, những hạnh phúc và đắng cay, những nụ cười và nước
mắt, những gặp gỡ và chia lìa, những hy vọng và tuyệt
vọng... Ông đã có đủ tất cả, những “được” và “mất”.
“Chén rượu cay một đời tôi uống hoài...” (Phôi Pha),
ông từng có lúc thở than như vậy và sau cùng đã phải
cam chịu đầu hàng số phận, “một đời về không, hai tay
quy hàng” (Vẫn Nhớ Cuộc Đời).
Nội dung bài này chỉ nhằm phác họa đôi nét về tính cách
khá phức tạp, đầy rẫy những mâu thuẫn, bất ổn và bất
định của con người thật và không thật TCS. Một con
người nghệ sĩ vừa đáng yêu lại vừa đáng ghét, và cũng
vì vừa đáng ghét vừa đáng yêu nên người ta luôn luôn
muốn nói về ông. Vì yêu nên ghét, vì ghét nên yêu,
người ta không dễ gì quên được ông.
TCS, dẫu sao thì chung cuộc ông vẫn còn ít nhiều may
mắn, vì nhân gian đâu có “bạc đãi” ông, cũng chẳng “phụ
rẫy” ông như là ông tưởng. Cứ nhìn vào đám đông người
và người lũ lượt kéo nhau theo sau ông trong ngày ông
lặng lẽ rời bỏ “quán trọ trần gian” là đủ thấy. Chung
cuộc, ông mang theo được gì? Ông “được”những gì, “mất”
những gì? Những dòng nước mắt theo sau ông, là những
“dòng nước mắt sẽ tiếc cho ngày vui”... Những đóa hoa
hồng theo sau ông, là những “đóa hoa hồng tàn hôn lên
môi”... Những ngọn nến theo sau ông, là những “đời đốt
nến chia phôi, dù nhớ thương cũng hoài”... TCS, ông đã
“nằm chết như mơ”.
Còn gì nữa? Tiếng kèn nghèn nghẹn nào của người nhạc sĩ
saxophone cũng theo sau ông, cho ông nghe, nghe lại một
lần cuối những bài TCS một thời ai cũng biết. Tiếng kèn
saxo buồn bã, réo gọi... Khuôn mặt đẫm lệ nào của cô
gái trẻ xinh đẹp cũng theo sau ông, cũng đòi để tang
ông, cho ông thấy, “thấy em đi quanh từng giọt nước
mắt...” Và cả những người từng đày đọa ông, từng làm
tình làm tội ông, cũng lặng lẽ theo sau ông, cho ông
thấy, thấy “biết bao người dắt dìu tới quanh đây...”
Biết bao người muốn như ông mà không được. Ông còn mong
gì hơn thế nữa.
Đám đông, hầu hết là những người trẻ, rất trẻ. Những
người trẻ, có thể là họ cũng chưa hiểu ông nhiều lắm,
và họ cũng chẳng nghĩ suy gì nhiều. Họ chỉ đơn giản
biểu lộ lòng yêu mến ông. Thế thôi. Họ đi như đi trong
một đám rước, như đi trong một cuộc xuống đường, chỉ
không có hò hét, vung tay vung chân. Đám đông câm lặng.
Họ lũ lượt kéo nhau đi như đi trong ngày “hội trần
gian” (chữ của ông).

TCS, dù sống hay chết, vẫn cứ là như thế, vẫn cứ là đám
đông theo sau ông, là đám đông vây kín ông. Vậy mà ông
thật cô đơn giữa đám đông ấy, giữa đám đông “lô nhô
loài người”. Nỗi cô đơn ấy lại làm tôi nhớ tới cái thú
tiêu khiển có vẻ lạ lùng của ông. Cái thú mà ông chỉ có
thể tận hưởng riêng mình chứ không thể nào san sẻ cùng
ai được, đấy là cái thú được làm bạn với nỗi cô đơn,
được ngồi lặng yên một mình một cõi trong phòng vắng để
uống rượu và... nhìn nắng mỗi ngày từ sáng đến chiều
tối trong khoảng không gian tĩnh lặng. Không rõ đấy có
phải là “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”(?). Ông đã cô
đơn biết chừng nào.
TCS, tôi thấy ông như vẫn còn ngồi đó, trên chiếc ghế
bành quen thuộc, điếu thuốc hút dở, chiếc gạt tàn, lọ
hoa và cốc rượu trên mặt bàn. Tất cả đều im lìm, bất
động, như bức vẽ của ông, bức tranh tĩnh vật. Ông vẫn
còn ngồi đó, nhìn nắng lên mỗi ngày, nhìn nắng tắt mỗi
ngày, nhìn “nắng vàng phai như một nỗi đời riêng” (Tôi
Ơi, Đừng Tuyệt Vọng). Rồi nắng lại lên, rồi một ngày
mới lại bắt đầu...
TCS, tôi thấy ông như vẫn còn ngồi đó, ngày này sang
ngày khác, trong căn phòng đó, hay phía ngoài hành
lang, nhìn xuống những mặt đường bình yên, thấy xe ngựa
ngược xuôi, thấy dòng đời xuôi ngược, thấy cuộc sống
vẫn lao nhanh về phía trước...
Đã có người hỏi ông, “Chết là sao, sao gọi là chết?”
Ông trả lời: “Có người bỏ cuộc tình mà đi như một kẻ
đãng trí, có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ
quên...”(8) TCS, ông vừa như một kẻ đãng trí, lại vừa
như người chìm đắm trong một giấc ngủ quên.
Lại có người hỏi, “Một cõi đi về là sao, sao gọi là một
cõi đi về?” Ông trả lời: “Có một cõi đến và một cõi về.
Cõi đến là đến từ hư vô và cõi về là về lại hư vô. Ai
cũng có một cõi đi về, vì vậy xin có lời chúc bình an
cho chuyến hành hương dành riêng cho mỗi người trong
cuộc đời này...”(3) Những lời ấy tôi tin là lời thực,
vì vậy tôi cũng muốn gửi đến ông “lời chúc bình an” ấy,
như ông đã chúc lành cho mọi người còn ở thế gian này,
và những gì ông mang theo được trong cuộc hành hương
sau cùng sẽ không phải là... ảo giác.
lê hữu


(1) Phạm Duy, Hồi Ký: Thời Phân Chia Quốc Cộng, nxb
Phạm Duy Cường, California, 1991
(2) TCS, Trịnh Công Sơn, Rơi Lệ Ru Người, nxb Phụ Nữ,
Hà Nội, 2001
(3) TCS, trả lời phỏng vấn, Trịnh Công Sơn, Một Người
Thơ Ca, Môt Cõi Đi Về, nxb Âm Nhạc & TTVH Ngôn Ngữ Đông
Tây, Hà Nội, 2001
(4) TCS, tạp bút, Một Cõi Trịnh Công Sơn, nxb Thuận Hóa
& TTVH Ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2002
(5) Văn Cao, lời bạt, Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, nxb
Trẻ, TP.HCM, 1991
(6) TCS, trả lời phỏng vấn, Tạp chí Thế Giới Mới,
TP.HCM, 2/1999
(7) Quỳnh Giao, Trịnh Công Sơn, Như Cánh Vạc Bay, Tạp
chí Văn Học, California, 10&11/2001
(8) TCS, tạp bút, Trịnh Công Sơn, Người Hát Rong Qua
Nhiều Thế Hệ, nxb Trẻ, TP.HCM, 2001


(Đã đăng trên tạp chí Văn Học số Tân Niên, tháng
2&3/2004)




 
 
Nguồn: Internet

Tựa đề:

#

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z

Tác giả:

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z