Nhớ người đắp tượng
Nguyên Nhi

 

Năm ấy ông ngoài năm mươi. Tôi mới vừa mười tuổi.Tôi hay gặp ông vào những chiều nghỉ học, sau khi đã đảo khắp xóm để bán cho hết nồi khoai luộc hay chuối nấu. Trên chiếc mâm nhôm tôi đội trên đầu, má tôi đã chia sẵn khoai ra từng khúm.
Mỗi khúm năm cắc! Chuối thì đếm trái. Hai trái một đồng. Tôi lưu ý ông về sự hiện diện của mình bằng một chiếc bóng đen gầy, đầu húi cua, áo sơ mi ngắn tay và chiếc quần đùi rộng thùng thình. Cái bóng dị dạng dài ngoằng ngả lấp một khoảng sân nắng trước mặt ông. Bao giờ câu hỏi đầu tiên cũng là: "Sao, khá không con?" và thường thì chỉ có một câu trả lời "Thưa được được, ông à!" Ông vẫn không rời tay khỏi pho tượng đang đắp dở, đôi ánh mắt sắc sảo mà hiền từ ngời lên một vẻ thành khẩn trang nghiêm. Chiếc bay thợ hồ nhỏ xíu chăm chút tô từng mảng xi măng xám lên những manh lưới thép cuộn vòng. Thỉnh thoảng ông ngừng lại một chút, nghiêng nghiêng mái tóc hoa râm như đang chiêm ngưỡng một công trình vĩ đại.
Tôi ái mộ ông già hết mức!
Chung quanh ông là một rừng tượng. Tượng Phật Thích Ca.Tượng Phật Di Lặc. Tượng Ðồng tử bái Quan Âm. Tượng La Hán. Tượng Ông Thiện Ông Ác... Có pho chưa hoàn thành. Có pho đã sơn son thếp vàng, chờ người đến thỉnh.
"Vậy ông bán có được nhiều tiền không?" Một lần nọ tôi hỏi.
"Ông không bán", ông lắc đầu nhe "Tiền của khách thập phương hay chùa bạn đến thỉnh mình chúng cho chùa. Chùa mua cơm gạo, thức ăn, vật liệu. Như ông làm công quả vậy mà!"
"Rồi làm sao ông giúp đỡ gia đình?"
"Ông không còn gia đình!"
Hồi đó tôi ngạc nhiên dữ lắm. Tôi chưa thể tưởng tượng được chuyện một người lại có thể mất hết cả gia đình, hàng họ, người thân.
"Vậy ông không buồn sao?"
Tôi sực nhớ những chiều đi học về không thấy má tôi trong căn nhà lá ọp ẹp vì một phiên chợ ế.
"Không! Lòng ông thanh tịnh", giọng ông đều đều.
"Ha Sao vậy ông? Nghĩa lạ sao?" Tôi hỏi nữa.
"À, lòng ông nhẹ nhàng, thanh thản." Ông già bỗng trầm ngâm một chút..."Cực Lạc đâu ở đâu xạ Cực Lạc ở ngay trong những gì mình nghĩ, những điều mình làm."

Ông càng nói tôi càng mù mịt. Nhất là lúc ông bàn về "lục dục thất tình" rồi "sắc sắc không không". Tôi lơ đãng dõi mắt về phía đôi chim sẻ đang loay hoay bên chiếc tổ nhỏ dưới nóc chùa. Buổi chiều xuống rất chậm và tôi nghe tiếng ve muộn màng trên những hàng dương. Khi bóng tối trùm xuống hậu liêu, ông mới lặng lẽ thu gom vật dụng, và tôi cặp nách chiếc mâm thau lững thững ra về.

Có những biến cố chánh trị làm bẵng một dạo tôi không gặp ông. Chùa bị vây bọc bởi những vòng thép gai và tôi thấy lảng vảng ở góc phố bên kia mấy thanh niên mang kính đen. Mọi người xầm xì đó là mấy "ông mật vụ". Ðến khi đảo chính xong, tôi mới vui mừng được đến thăm ông. Vẫn là câu hỏi "Sao, khá không con?"

Tôi lớn khôn dần và cơn lốc thời thế đã cuốn hút tôi vào cuộc chiến tranh tàn khốc. Trong những lần về phép hiếm hoi, tôi vẫn đến thăm ông. Tôi đã có thể ngồi uống với ông một tách trà thơm và bàn với ông đôi điều thế sự. Câu hỏi mở đầu lúc bấy giờ cũng khác trước.
"Con có khỏe không? Tâm hồn con có được bình an?"
"Thưa ông, con đang kiếm tìm sự bình tâm ấy. Con đã phạm lắm lỗi lầm. Ðiều đó cứ làm con hoài hoài bứt rứt."
"Ông hiểu! Nhưng phải biết tự tha thứ cho mình con ạ! Tha thứ cho người khác bao giờ cũng dễ. Cái khó là tha thứ cho chính mình."
"Con nhớ lời ông."

Ông lại đưa tôi bay chấp chới vào những vòm tư tưởng lạ. Ðầu óc tôi cùn mằn, những điều lập lại sau hăm mấy năm e có phần sai lạc. Mà dù có nhớ đúng đi chăng nữa, những tư tưởng ấy cho đến cuối đời tôi vẫn là một thứ mê cung kỳ bí. "Chính những lời nói im lặng nhất mới mang lại bão giông", có khi ông lẩm bẩm một mình. "Chính những tư tưởng hiện lên trên bước chân chim bồ câu mới thống trị thế giới."

Những lần về phép như vậy tôi và ông hay ngồi trong bóng tối chạng vạng nhìn hàng dương âm thầm trút những chiếc lá kim. Tiếng chuông công phu chiều át hẳn tiếng động cơ xe cách xa vài con phố. Ánh sáng nhá nhem còn đọng lại trên vai nhũng pho tượng trầm mặc, uy nghi.

"Khi uống một tách trà xanh, tôi đã tìm thấy được hòa bình!" Ông hay nhắc lại lời một thiền sư Nhật Bản.
Bên ông, tôi quên hết những hệ lụy cuộc đời. Mọi phiền não chỉ có được ở những nơi nào đó, rất xa, bên kia chiếc cổng tam quan. Chiến tranh như chỉ xuất hiện trên những bản tin đài phát thanh, báo chí. Xa lắm, rất xa. Nhưng không...
Một ngày tháng năm khi tôi trở về với trái tim đầy thương tích thì mái chùa xưa cũng không còn nguyên vẹn. Những tượng Phật đã bị đập vỡ tan tành. Chiếc đại hồng chung đã mất dấu Và ông già đắp tượng đã biền biệt phương nào. Tôi nghe người ta kể lại buổi họp kiểm thảo ở chánh điện hôm tiếp quản ấy.
"Tôn giáo là nọc độc của chủ nghĩa tư bản!" Giọng tên cán bộ chủ trì buổi họp hùng hồn. "Tôn giáo chỉ có một mục đích ru ngủ, làm tê liệt ý chí đề kháng của quần chúng. Mọi người phải thành thật khai báo và tự phê bình nghiêm túc những đóng góp cá nhân mình vào việc chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân".

"Không, tôi chỉ là người đắp tượng", ông già tội nghiệp cúi đầu. "Tôi chỉ cầu sự an vui thanh thản trong tâm hồn"...
Ông già bị đưa đi cải tạo vì đã phổ biến "văn hóa phẩm độc hại" và "ngoan cố không thành khẩn tự phê". Mấy hôm sau bọn tôi cũng được lùa vào trại tập trung để "học tập chính sách mới".

Sau mấy năm ở trại trở về, ngoài gương mặt dầu dãi nắng mưa và một tâm hồn đầy ắp tràn thương tật thì tôi lại trở thành một chú bé ngày xưa; tóc húi cua xơ xác, chiếc áo sơ mi tay ngắn rách vai và chiếc quần đùi loang mủ chuối rộng thùng thình che không hết đôi chân ốm đói. Nhưng không còn khoảng nắng sân chùa để tôi in bóng. Và hình ảnh ông già đắp tượng năm nao cũng chỉ còn một hồi ức đau buồn.

Ngôi chùa cổ kính bây giờ đã biến thành Cung Văn Hóa Thành Phố. Những buổi chiều thứ năm, thứ bảy bọn trẻ xóm tôi nhảy rào vào xem chương trình "nhảy múa". Trong chánh điện, những thanh niên thiếu nữ mới lớn tập nhảy đầm với đôi bàn chân trần và chiếc bụng lép. Có hôm tôi đứng tần ngần hàng giờ bên cánh cửa gỗ có lộng hình những cánh sen non. Bệ thờ lạnh lẽo trống trơn được bài trí bằng khung hình ba vị lãnh tụ cách mạng vô sản thế giới. Những chiếc cột tròn khắc hình rồng loang lở còn cố chống đỡ mái ngói cong đã ngả xám màu rêu.
Mái Tây, giang sơn của ông già đắp tượng, người ta đã che những tấm cót tre kín đáo để làm phòng chiếu video.
Người lính, đôi khi dễ khóc! Nhất là những người lính bại trận. Nhiều lúc tôi đã nguyền rủa mình. Chúng tôi đã bất lực. Những lúc ấy, hình ảnh ông già đắp tượng lại hiện ra:
"Phải biết tự tha thứ cho mình con ạ"...

Rồi tôi được sang Mỹ theo một "Chương trình nhân đạo" của chính phủ Hoa Kỳ. Chính phủ của đất nước vĩ đại này đã làm một hành động có ý nghĩa để tự xoa dịu một chút cái gọi là lương tâm còn xót lại. Số là trên cùng một con tàu, thay vì cùng chúng tôi ra sức chèo chống để vượt qua cơn bão dữ, họ đã ném chúng tôi xuống biển, rồi nhẹ nhàng thơ thới giong buồm. Hai mươi năm sau họ trở lại và ném chúng tôi một ít phao
cấp cứu. Tiếc thay, đã có lắm người mòn mỏi vùi thân trong biển đỏ tự bao giờ. May mà tôi còn đang thoi thóp! Chọn nước Mỹ chỉ là chọn "cái ít xấu hơn" thôi. Lại nữa: gì thì gì phải tồn tại cái đã! Có lẽ chính phủ và nhóm phản chiến ngày xưa phải cám ơn chúng tôi vì chúng tôi đã đến đây để lương tâm họ được phần nào yên ổn.

Ða phần chúng tôi không chống đỡ nổi sự hấp dẫn của vùng đất mới; tiền bạc và thói hư tật xấu! Lắm kẻ ngưỡng mộ và tôn vinh những thứ cặn cáu mà xã hội này thải ra. Chiếc áo lót năm đồng làm quà tặng vẫn gây xao xuyến nhiều hơn một bài thơ tình nóng bỏng. Tôi không chút ngạc nhiên nếu xứ sở này đã và sẽ không bao giờ sản sinh ra được một nhà thơ tầm vóc như Nguyễn Ðình Chiểu, Nguyễn Du, ...
Phần tôi, nếu bên kia biển tôi đã mất một quê hương thì bên này tôi cũng mất thêm một gia đình. Từ lâu tôi đã quên hẳn ông già đắp tượng. Cuộc sống bon chen đã làm tôi quên chăm lo sự thanh thản của tâm hồn. Vâng, tôi đã thực sự quên ông già đắp tượng. Cũng có nghĩa là tôi sắp mất luôn tôi.
Cho tới một ngày.
Tôi có một cô bạn. Cô ấy sinh hoạt xã hội sao đó trong một ngôi chùa ở đây. Gần hai năm không gặp mặt và nghe tiếng, bỗng một hôm cô nhắn tôi viết cho báo Tết của chùa. Thoạt tiên, tôi có ngần ngừ vì tài mọn. Quyết định viết vì thích viết thì ít mà quí cô ấy thì nhiều. Nhưng viết gì đây?
Hẳn nhiên bài viết phải có một ít sắc màu tôn giáo, nhưng tâm tôi đã trót vọng đời, biết làm sao trong khoảnh khắc quay ngoắt được về lẽ đạo? Bỗng bên tai tôi như vọng lại lời ngân nga trầm buồn một tiếng chuông xưa! Trong trí tôi bỗng sừng sững uy nghi một ngôi chùa mái đỏ cong vút! Và kìa, trước mắt tôi là thong dong tự tại hình dáng thân yêu của ông già đắp tượng ngày nào! Ông đang ân cần ngó xuống đời tôi: "Sao, tâm con có được phần nào thanh thản? Hãy biết tự tha thứ cho mình, con ạ!"

Tôi biết tôi sẽ không bao giờ quên được ông nữa. Cám ơn cô bạn!
Quê hương tôi giờ đây không còn tự do tín ngưỡng. Tu sĩ bị bắt bớ giam cầm, chùa chiền bị sung công. Người ta đua nhau viết biểu ngữ, vẽ chân dung và đúc tượng lãnh tụ, thì hình ảnh người đắp tượng Phật chỉ còn một hoài niệm mơ hồ. Nếu mỗi năm, Tết đến, mấy vần thơ bất hủ của Vũ Ðình Liên đã gợi lại cho tôi hình ảnh ông đồ già và một thời vang bóng thì năm nay "...Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ."
làm tôi bâng khuâng nhớ lại một người muôn năm cũ: Ông già đắp tượng nơi mái tây ngôi chùa thời thơ ấu.
Tôi biết ông già không phải là người tinh tường Phật học cao siêu. Ông chỉ là một người đắp tượng! Còn tôi, làm sao đầu óc tủn mủn vụn vặt của tôi có thể lĩnh hội được lẽ đạo nhiệm mầu? Nhưng tôi sẽ cố nhớ và gắng hiểu lời ông.
Cực Lạc không ở đâu xa. Cực Lạc ở ngay trong những gì mình nghĩ, những điều mình làm. Tôi sẽ học cách tự tha thứ cho mình. Tôi sẽ tìm được cho mình một tâm hồn an nhiên thanh tịnh.
Tôi sẽ bỏ con dao.
Nhưng biết cái tâm nguyện ấy có đạt thành không, hở cô bạn nhỏ?

Nguyên Nhi
Okla, 18.1.97
 
 
Nguồn: bienkhoi.com

Tựa đề:

#

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z

Tác giả:

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z